vanban.org

Bản án 38/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 01/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ha L1 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Ha L1 08 (T) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16-6-2023; Tuyên bố bị cáo Ngô Thanh N phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ha L1 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-ST
Ngày: 01-02-2024.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Anh Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Tịnh Thới.

2. Ông Phạm Quang Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Phƣơng Thảo – Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 255/2023/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 264/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/HSST-QĐ ngày 08-01-2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/HSST-QĐ ngày 17-01-2024, đối với các bị cáo:

1. HA L1, sinh năm: 1987, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hồi giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chàm Đ, sinh năm: 1937 (đã chết) và bà Ma Ri D, sinh năm: 1944; Vợ: Ti Qua, sinh năm: 1988, có 03 người con, lớn nhất sinh năm: 2015, nhỏ nhất sinh năm: 2019; Tiền sự: Không;

Tiền án: Có 01 tiền án (Tại Bản án số 64/2022/HS-ST ngày 20-5-2022, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 09-10-2022 chấp hành xong hình phạt tù).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16-6-2023 đến nay.

2. NGÔ THANH N, sinh năm: 1980, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô B, sinh năm: 1945 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1950; Vợ: Vi Thanh H1, sinh năm: 1991 (Đã ly hôn), có 02 người con, sinh năm: 2012 và 2017; Tiền sự, tiền án: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-8-2023 đến nay.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người chứng kiến:

Ông Chàm C, sinh năm: 1956. (Vắng mặt) Địa chỉ: Ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 16-6-2023, có đối tượng tên L (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà H, thuộc ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. L lấy dụng cụ sử dụng ma túy ra và dùng quẹt gas đốt lên hút được một hơi xong thì L nói với Ha L1: “Hết rồi, đồ nè” (nghĩa là L đã sử dụng hết số ma túy còn sót lại trong nỏ và đưa cho L1 01 gói ma túy). Ha Liêm đổ gói ma túy L đưa vào nỏ thủy tinh, chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an xã X, huyện X phát hiện. Ha Liêm cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy vứt xuống sân làm vỡ đầu nỏ thì bị lực lượng Công an bắt giữ. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ha L1 và niêm phong tang vật theo quy định.

Kết quả điều tra xác định: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 16-6-2023, Ha L1 sử dụng điện thoại gắn sim số 0968340849 gọi cho Ngô Thanh N qua số sim 0393912164 nói góp tiền mua ma túy qua nhà của Ha L1 sử dụng, Ngô Thanh N đồng ý. Ngô Thanh N đến nhà thấy Ha L1 đang ngủ, Ngô Thanh N gọi Ha Liêm dậy và đưa 100.000 đồng góp mua ma túy. Ha Liêm lấy tiền đi mua nước uống và card điện thoại. Sau đó, Ha L1 lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (chai nhựa có gắn nắp, trên nắp có gắn ống hút nhựa, màu vàng, nối với ống hút nhựa màu đỏ và 01 nỏ thủy tinh) có chứa sẵn ma túy đang để dưới bàn ra và nói Ngô Thanh N đi xuống phòng bếp rồi cả hai cùng sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, có đối tượng tên L (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là bạn ngoài xã hội của Ha L1, đến và nói với Ha L1: “Còn đồ không” (nghĩa là còn ma túy không), Ha L1 trả lời: “Còn dưới bàn” (nghĩa là ma túy ở dưới bàn). Lúc này, Ngô Thanh N đang ngồi bên cạnh và biết việc L xin sử dụng chung ma túy nhưng không nói gì, cũng không ngăn cản. L lấy dụng cụ sử dụng ma túy ra, dùng quẹt gas đốt lên hút được một hơi xong. L nói với Ha L1: “Hết rồi, đồ nè” (nghĩa là L đã sử dụng hết số ma túy còn sót lại trong nỏ và đưa cho Ha L1 01 gói ma túy). Ha Liêm đổ gói ma túy đó vào nỏ thủy tinh, chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an xã X, huyện X đến kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an, Ha L1 cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy vứt xuống sân làm vỡ đầu nỏ, L bỏ chạy thoát. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ha L1 và niêm phong tang vật theo quy định.

* Tại Bản kết luận giám định số 1268/KL-KTHS, ngày 22-6-2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu đoạn ống thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định có phát hiện chất ma túy, loại: Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

H2 lại đối tượng sau giám định: Toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định. Không hoàn lại mẫu vật, mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 1268/KL-KTHS.

* Vật chứng vụ án thu giữ:

- 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (chai nhựa có gắn nắp, trên nắp có gắn ống hút nhựa, màu vàng nối với ống hút nhựa màu đỏ);

- 01 (Một) ống thủy tinh (hình trụ), dài 15cm, bị vỡ đầu. Được niêm phong ký hiệu M.

- 01 (Một) quẹt gas.

- 01 (Một) cái điện thoại nhãn hiệu VIVO, có gắn sim số 0968.340.849, đã qua sử dụng của Ha L1 có sử dụng liên lạc với Ngô Thanh N.

- 01 (Một) cái điện thoại nhãn hiệu VIVO, có gắn sim số 0981.544.217, đã qua sử dụng của Ngô Thanh N, có sử dụng liên lạc với Ha L1.

Bản cáo trạng số 255/CT-VKSXL ngày 16-11-2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai truy tố Ha Liêm và Ngô Thanh Ngọc về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Ha L1 và Ngô Thanh N khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung Cáo trạng mô tả. Hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Ha L1 và Ngô Thanh N.

Bị cáo Ha L1 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Ngô Thanh N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật có phần bị hạn chế, bị cáo Ngô Thanh N có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Ha L1 và Ngô Thanh N phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”:

- Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, Điều 51; khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Ha Liêm từ 07 năm 6 tháng đến 08 năm tù;

- Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s, khoản 1, Điều 51; khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Ngô Thanh N từ 07 năm đến 07 năm 6 tháng tù;

* Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì được niêm phong số 1268/KL-KTHS ngày 22-6-2023, của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Đ; 01 (Một) quẹt gas; 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (chai nhựa có gắn nắp, trên nắp có gắn ống hút nhựa, màu vàng nối với ống hút nhựa màu đỏ);

- Tịch thu sung công: 01 (Một) cái điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, có gắn sim số 0968.340.849, đã qua sử dụng; 01 (Một) cái điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, có gắn sim số 0981.544.217, đã qua sử dụng.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã ăn năn, hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Ha L1 và Ngô Thanh N khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung Bản cáo trạng nêu, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16-6-2023, Công an xã X, huyện X tiến hành kiểm tra hành chính nhà của H, thuộc ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Lực lượng Công an phát hiện trong nhà của Ha L1 có 03 đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma tuý, gồm: Ha Liêm, Ngô Thanh N và đối tượng tên L (chưa rõ nhân, lai lịch) đã bỏ chạy khi lực lượng Công an kiểm tra. Thu giữ tại hiện trường 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (chai nhựa có gắn nắp, trên nắp có gắn ống hút nhựa, màu vàng nối với ống hút nhựa màu đỏ); 01 ống thủy tinh (hình trụ) dài 15cm bị vỡ đầu và 01 quẹt gas. Mẫu đoạn ống thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định kết quả: Có phát hiện chất ma túy, loại: Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng; Xét nghiệm nhanh Ha Liêm và Ngô Thanh N, kết quả tất cả dương tính ma túy, loại Methamphetamine. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Ha L1 và Ngô Thanh N phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 Bộ luật Hình sự, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy, nên cần đưa ra xét xử và áp dụng mức hình phạt nghiêm, nhằm răn đe các bị cáo và để giáo dục, phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Ha L1 là người khởi xướng, chuẩn bị ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy, do đó hình phạt áp dụng cho từng bị cáo là phụ thuộc vào vai trò thực hiện hành vi phạm tội của mỗi bị cáo.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Các bị cáo Ha L1 và Ngô Thanh N góp tiền mua ma túy, đem về, đổ vào dụng cụ cùng sử dụng và cho đối tượng tên L sử dụng chung, là thuộc trường hợp: “Đối với 02 người trở lên”, nên bị xét xử tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự. [4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Bị cáo Ha L1 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Ngô Thanh N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Ha L1 là dân tộc thiểu số, bị cáo Ngô Thanh N chưa tiền án, tiền sự, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 và khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cũng xem xét cho các bị cáo trong khi quyết định hình phạt.

Đối với đối tượng tên L do không xác minh được nhân thân lai lịch nên tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ và xử lý sau. [6] Về vật chứng:

- 01 (Một) phong bì được niêm phong số 1268/KL-KTHS ngày 22-6-2023, của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Đ; 01 (Một) quẹt gas và 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (chai nhựa có gắn nắp, trên nắp có gắn ống hút nhựa, màu vàng nối với ống hút nhựa màu đỏ); là dụng cụ các bị cáo dùng trong quá trình tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (Một) cái điện thoại nhãn hiệu VIVO, có gắn sim số 0968.340.849, đã qua sử dụng; 01 (Một) cái điện thoại nhãn hiệu VIVO, có gắn sim số 0981.544.217, đã qua sử dụng, là dụng cụ các bị cáo dùng trong quá trình tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên tịch thu sung công.

Về án phí: Các bị cáo Ha L1 và Ngô Thanh N phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, Điều 51; khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Ha L1 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Ha L1 08 (T) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16-6-2023;

2. Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s, khoản 1, Điều 51; khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Ngô Thanh N phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Ngô Thanh N 07 (B1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08-8-2023;

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì được niêm phong số 1268/KL-KTHS ngày 22-6-2023, của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Đ; 01 (Một) quẹt gas và 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (chai nhựa có gắn nắp, trên nắp có gắn ống hút nhựa, màu vàng nối với ống hút nhựa màu đỏ).

3.2. Tịch thu sung công: 01 (Một) cái điện thoại nhãn hiệu VIVO, có gắn sim số 0968.340.849, đã qua sử dụng; 01 (Một) cái điện thoại nhãn hiệu VIVO, có gắn sim số 0981.544.217, đã qua sử dụng.

Tất cả đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc ngày 17-11-2023. 4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí.

Ha Liêm và Ngô Thanh N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ