- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Văn T1 mua bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn T1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2018/HS-ST Ngày: 17 - 8 - 2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lại Xuân Cảnh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Quý;
2. Bà Vũ Thị Duyên;
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm tham gia phiên toà: Ông Vũ Đình Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2018/QĐXXST-HS ngày 03/8/2018, đối với bị cáo:
+ Quách Văn T1 - sinh năm 1995; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn TL, xã AB, huyện LT, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Văn T2 và bà Lê Thị H1; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 13/10/2017, bị Công an huyện LT, tỉnh Hòa Bình xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/01/2018 đến ngày 31/01/2018 được thay đổi bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Huyền Chi - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Lê Văn H2 - sinh năm 1993; vắng mặt,
+ Chị Lê Thị Thuỳ L1 - sinh năm 1998; vắng mặt,
Cùng ĐKHKTT: Thôn 6, xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình.
* Người làm chứng:
+ Ông Đỗ Văn H3 - sinh năm 1967; nơi ĐKHKTT: Thôn ĐV, xã TH, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; vắng mặt,
+ Anh Trần Văn H4 - sinh năm 1977; nơi ĐKHKTT: Thôn ĐX, xã TH, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 17/01/2018, có một người nam giới dùng số điện thoại 0988365591 gọi điện thoại cho Quách Văn T1 đặt vấn đề mua 10 hộp pháo; T1 đồng ý bán với giá 900.000 đồng/1 hộp và hẹn khi nào có pháo thì T1 sẽ chủ động liên lạc lại. Sau đó, T1 lên mạng internet tìm mua pháo và liên hệ được với một người nam giới có số điện thoại là 0961961920 đăng tin bán pháo trên mạng. Người này thỏa thuận bán pháo cho T1 với giá 850.000 đồng/1 hộp và hẹn ngày 25/01/2018 sẽ giao cho T1 tại khu vực ngã ba GK thuộc địa phận huyện GV, tỉnh Ninh Bình. Đến khoảng 15 giờ ngày 25/01/2018, người này liên lạc với T1 hẹn giao pháo. T1 đi bộ đến cổng chợ Gián hỏi mượn xe mô tô BKS 35B1-218.78 của chị Lê Thị Thùy L1 (là chị họ của T1). Sau khi mượn được xe, phát hiện thấy Đinh Văn K1 là người cùng thôn với T1 đang ở gần đó, nên T1 rủ K1 đi chơi cùng với mình. Khoảng 17 giờ cùng ngày, người hẹn bán pháo gọi điện cho T1 nói có 11 hộp pháo và hẹn T1 ra ngã ba GK để giao. T1 điều khiển xe mô tô chở theo K1 đến chỗ hẹn. Đến nơi, T1 quan sát thấy có một xe ô tô tải đang đỗ bên đường; T1 liền lấy điện thoại gọi cho người vừa liên lạc cho mình thì thấy người nam giới ngồi trên cabin xe ô tô nghe điện thoại. T1 hiểu người này vừa liên lạc với mình nên điều khiển xe đi đến cách xe ô tô khoảng 5-7m thì dừng lại rồi bảo K1 đứng đợi, còn T1 đi bộ đến đầu xe ô tô. T1 đưa qua cửa xe cho người này 9.350.000 đồng thì người này nhận tiền và mở cửa xe đưa cho T1 một bao tải chứa 11 hộp pháo. T1 bê bao tải quay lại chỗ K1 đợi và để lên xe mô tô cho K1 ngồi sau ôm rồi điều khiển xe đi theo Quốc lộ 1A. Trên đường đi, T1 gọi điện thoại cho người đã hỏi mua pháo của T1 thông báo có 11 hộp pháo thì người này đồng ý mua hết số pháo và hẹn giao nhận pháo tại đường bê tông thuộc thôn ĐV, xã TH, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T1 chở K1 cùng bao tải chứa pháo đến chỗ hẹn thì thấy có một người nam giới đang đứng chờ bên đường. T1 liền bê bao tải chứa pháo đưa cho người này; sau khi mở ra kiểm tra xong thì người này đếm tiền trả cho T1. Khi vừa đưa cho T1 được 3.000.000 đồng thì bị lực lượng Công an thuộc Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Hà Nam phối hợp với Công an xã TH phát hiện bắt quả tang. Lợi dụng sơ hở, người nam giới giao dịch mua pháo của T1 và Đinh Văn K1 bỏ chạy; lực lượng Công an truy đuổi nhưng không bắt được.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- 11 (Mười một) hộp pháo hình hộp kích thước (14 x 14 x 10)cm đựng trong bao tải dứa, được niêm phong theo quy định;
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A11 màu trắng-đen, đã qua sử dụng;
- 3.000.000đ (Ba triệu đồng);
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius RC BKS 35B1-218.78;
- 01 (Một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Quách Văn T1.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Quách Văn T1, Cơ quan điều tra không thu giữ gì.
Tại bản kết luận giám định số 119/KTHS ngày 26/01/2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: “Mẫu ký hiệu A gửi giám định là pháo, có đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 13,151 kg (Mười ba phẩy một trăm năm mươi mốt ki lô gam)”.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh số điện thoại 0961961920 mà T1 khai người nam giới sử dụng liên lạc bán pháo cho T1 và số điện thoại 0988365591 mà T1 khai người nam giới liên hệ mua pháo của T1. Kết quả: Chủ thuê bao đăng ký số điện thoại 0961961920 là chị Hồ Thị Thúy Oanh - sinh năm 1998, trú tại thôn 4, xã Gia Lâm, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; nhưng chị Oanh xác định không đăng ký và sử dụng số thuê bao nói trên. Chủ thuê bao đăng ký số điện thoại 0988365591 là anh Trương Văn Quang - sinh năm 1983, trú tại xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nhưng anh Quang và gia đình không sống ở địa phương, hiện không xác định được địa chỉ. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở làm rõ người đã giao dịch mua bán pháo với T1.
Ngày 12/02/2018, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm đã trả lại cho anh Lê Văn H2 (là chồng chị Lê Thị Thùy L1) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius RC BKS 35B1-218.78.
Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 06/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố Quách Văn T1 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Quách Văn T1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự - Xử phạt bị cáo Quách Văn T1 từ 12 đến 18 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số pháo hoàn lại sau giám định; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A11 và số tiền 3.000.000 đồng; trả lại cho Quách Văn T1 01 (Một) giấy chứng minh nhân dân. Bị cáo T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa nhất trí với tội danh, điều luật, khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo với mức án là 12 tháng tù, cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Liêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Với mục đích kiếm lời, khoảng 18 giờ ngày 25/01/2018, tại khu vực đường bê tông thuộc địa phận thôn ĐV, xã TH, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; Quách Văn T1 đang bán 13,151kg pháo, có đặc tính pháo nổ cho một người nam giới chưa xác định được lai lịch, thì bị lực lượng Công an tỉnh Hà Nam phối hợp với Công an xã TH bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm lưu thông, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Số pháo nổ mà bị cáo buôn bán có khối lượng trên 06 kilôgam và dưới 40 kilôgam. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử kết luận: Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm truy tố Quách Văn T1 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Xét về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo đã bị xử phạt hành chính, chưa được xóa nhưng không lấy đó bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục có hành vi phạm tội. Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, thì bị cáo có nhân thân xấu, không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc Mường, nhận thức và hiểu biết về pháp luật còn hạn chế; nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và có hoàn cảnh gia đình khó khăn; nên miễn phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Đinh Văn K1: T1 khai rủ K1 đi chơi, không nói cho K1 biết việc T1 vận chuyển, giao dịch mua bán pháo. Cơ quan điều tra đã triệu tập K1 để xác minh nhưng K1 hiện không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì; nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius RC BKS 35B1-218.78: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Lê Văn H2 (là chồng chị Lê Thị Thùy L1). Khi cho T1 mượn xe, chị L1 không biết T1 sử dụng chiếc xe này để buôn bán hàng cấm; do vậy Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H2 là phù hợp pháp luật.
- Đối với lượng pháo hoàn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ; nên sẽ tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A11 T1 dùng để liên lạc mua bán hàng cấm và số tiền 3.000.000 đồng do T1 bán hàng cấm mà có, nay sẽ tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 (Một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Quách Văn T1: Đây là giấy tờ tùy thân của T1, nên sẽ trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn T1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
+ Xử phạt bị cáo Quách Văn T1 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ đi số ngày đã bị tạm giữ từ ngày 25/01/2018 đến ngày 31/01/2018.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu, tiêu hủy 11 (Mười một) hộp pháo hoàn lại sau giám định đựng trong bao tải, đã được niêm phong. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A11 và số tiền 3.000.000 đồng. Trả lại cho Quách Văn T1 01 (Một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Quách Văn T1 (Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/7/2018 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Liêm với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Liêm. Số tiền theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử số 20 lập ngày 09/7/2018 tại Kho bạc Nhà nước huyện Thanh Liêm).
3. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
- Buộc bị cáo Quách Văn T1 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Thanh Liêm; - Công an huyện Thanh Liêm; - Chi cục THA DS huyện Thanh Liêm; - Sở tư pháp tỉnh Hà Nam; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Xuân Cảnh |