- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢƠNG SƠN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2017/HSST Ngày: 13/11/2017. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢƠNG SƠN - TỈNH HÀ TĨNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cƣờng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Khắc Hải; Bà Nguyễn Thị Thanh Hải.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Đức Nam; Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Hƣơng Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn tham gia phiên toà: Ông Lê Anh Tuấn; Kiểm sát viên.
Vào lúc 14 giờ 00, ngày 13 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2017/HSST, ngày 05/10/2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đình B; Sinh ngày: 06/6/1996; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn 10, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Trình độ văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị N; Anh chị em ruột: Có 04 ngƣời, bị cáo là con thứ tƣ; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đang tại ngoại tại địa phƣơng. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Chị Phan Thị S; Sinh năm 1984; NĐKNKTT và chổ ở: Xóm C, xã S1, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Vắng mặt tại phiên toà.
NHẬN THẤY
Bị cáo Nguyễn Đình B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Vào tối ngày 12/8/2017 Nguyễn Đình B đi đến Bệnh viện đa khoa huyện H nhằm mục đích lấy trộm tài sản. Khi đi đến bệnh viện B nằm ngủ ở ghế đá tại sân của bệnh viện. Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 13/8/2017 thức dậy rồi đi vào phòng hậu phẩu sản thuộc khoa sản của bệnh viện. B quan sát thấy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S màu vàng hồng của chị Phan Thị S, ở xóm C, xã S1, huyện H để ở bên giƣờng gần cửa chính. B vào phòng lấy trộm chiếc điện thoại di động này của chị S. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày Nguyễn Đình B mang chiếc điện thoại di động đã trộm đƣợc nói trên đến cửa hàng điện thoại di động của anh Trần Hồng Q ở khối 4, thị trấn P, huyện H để bán thì bị lực lƣợng công an phát hiện.
Tại biên bản định giá tài sản ngày 14/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản thiệt hại của huyện H kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S màu vàng hồng có giá trị là 2.500.000đồng.
Vật chứng vụ án: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S màu vàng hồng cơ quan công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại chị Phan Thị S đã nhận lại đƣợc tài sản bị mất nên không yều cầu gì.
Tại bản cáo trạng số 41/2017/CT-KSĐT ngày 05/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố Nguyễn Đình B về tội ''Trộm cắp tài sản'' theo khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đình B khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 138; điểm h, tiết đầu điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Đình B khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, vật chứng vụ án thu đƣợc và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Nhƣ vậy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi Nguyễn Đình B lén lút lấy 01 chiếc điện thoại của chị Phan Thị S trị giá 2.500.000 đồng đã phạm tội "Trộm cắp tài sản". Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điều 138 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn đúng ngƣời, đúng tội không có gì oan, sai.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hửu tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ. Bị cáo hành động táo bạo và liều lĩnh, địa điểm thực hiện tội phạm là ở Bệnh viện, đó là nơi khám chữa bệnh cho nhân dân nhƣng Bị cáo lợi dụng trà trộn vào để thực hiện tội phạm. Hành vi đó làm cho mọi ngƣời hết sức bất bình và lo sợ, gây hoang mang lo lắng cho mọi ngƣời mà đặc biệt là các bệnh nhân và ngƣời nhà của họ đi khám chữa bệnh. Bị cáo là thanh niên không chịu lao động sản xuất mà sống buông thả, theo báo cáo của chính quyền địa phƣơng B là đối tƣợng thƣờng đi đêm về khuya, có quan phức tạp với các thành phần xấu, nghiện chơi điện tử, chấp hành pháp luật không nghiêm. Vì vậy Hội đồng xét xử cần xét xử bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần căn cứ điểm h, tiếp đầu điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần về thái độ thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng.
- Trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra Công an huyện H đã xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử miễn xét.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời bị hại đƣợc quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 điều 138; điểm h, tiết đầu điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 98, Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Buộc bị cáo Nguyễn Đình B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; ngƣời bị hại đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án chính. Nơi nhận:
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND tỉnh hà Tĩnh;
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện H;
(Đã ký)
- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- Công an huyện H;
- Chi cục THADS huyện H;
- Bị cáo; bị hại;
- Lƣu hồ sơ, án văn.
Nguyễn Mạnh Cƣờng
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh(1); - Viện kiểm sát (2); - Công an Hương Sơn (2) - Bị cáo (1); - THA hình sự (3); - THA dân sự (1); - Người bị hại (1) - Lưu hồ sơ; V.Thư (2). | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Mạnh Cƣờng |