vanban.org

Bản án 376/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 23/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Văn B, Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V phạm tội Tổ ch c đánh bạc .

Căn c điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các bị cáo. Áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52; Khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn B và đồng phạm phạm tội "Tổ chức đánh bạc" - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Văn B, Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V phạm tội Tổ ch c đánh bạc .
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 376/2020/HS-ST
Ngày: 23/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hải Thị Liễu

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Trung Diễn

- Ông Trần Công Danh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 321/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 366/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 50/TB-TA ngày 13/7/2020 đối với bị cáo:

1.Họ và tên: Lê Văn B, sinh năm 1969 tại tỉnh C.

Nơi đăng ký thường trú: p R, xã V, huy n N, tỉnh C. Giới t nh: Nam; nơi ở hi n nay: Khu 82, khu phố Long Đ c 1, phường P, thành phố B, tỉnh Đ; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ học v n: lớp 7/12; nghề nghi p: buôn bán; họ tên cha Lê Văn B, sinh năm 1950 (đã chết); họ tên mẹ Hà M N, sinh năm 1950 (còn sống); gia đình có 07 chị em, bị cáo là con th hai; họ tên v Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; có 03 người con, lớn nh t sinh năm 1993, nh nh t sinh năm 2000; tiền sự: không.

Tiền án: Ngày 09-01-2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 25.000.000 đồng về tội Đánh bạc .

Bị bắt tạm gi t ngày 30-12-2019 đến ngày 08-01-2020. Bị cáo đang bị áp dụng bi n pháp C m đi kh i nơi cư trú.

2.Họ và tên: Phan Thị i L, sinh năm 1972 tại tỉnh G

Nơi đăng ký thường trú: p Phú Hòa, xã H, huy n Châu Th, tỉnh G; nơi ở hi n nay: tổ 25, khu phố Long Đ c 1, phường P, thành phố B, tỉnh Đ; giới t nh: N ; quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc : Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; trình độ học v n: không biêt ch ; nghề nghi p: bán vé số; họ tên cha Phan Văn S, sinh năm 1950 (còn sống); họ tên mẹ Hu nh Thị U, sinh năm 1951 (còn sống); gia đình có 04 chị em, bị cáo là con th hai; họ tên chồng: Phan Thanh L, sinh năm 1970; có 01 con sinh năm 2006.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm gi t ngày 30-12-2019 đến ngày 08-01-2020. Bị cáo đang bị áp dụng bi n pháp C m đi kh i nơi cư trú.

3. Họ và tên: Phan Thị Thú V (Tên gọi khác: L), sinh năm 1990 tại tỉnh G; giới t nh: N

Nơi đăng ký thường trú: p Phú Hòa, xã H, huy n Th, tỉnh G; nơi ở hi n nay: tổ 25, khu phố Long Đ c 1, phường P, thành phố B, tỉnh Đ; quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; trình độ học v n: 5/12; nghề nghi p: bán vé số; họ tên cha Phan Văn S, sinh năm 1950 (còn sống); họ tên mẹ Hu nh Thị U, sinh năm 1951 (còn sống); gia đình có 04 chị em, V là con th tư; chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm gi t ngày 30-12-2019 đến ngày 08-01-2020. Bị cáo đang bị áp dụng bi n pháp C m đi kh i nơi cư trú.

(Các bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Khoảng gi a tháng 12-2019, tại khu vực phường P, thành phố B, Lê Văn B rủ Phan Thị Kim L ghi (bán) số đề cho người mua đề rồi giao lại cho B để hưởng huê hồng 5 / tổng số tiền ghi đề đư c, do L không biết ch nên L rủ Phan Thị Thúy V (em gái L) c ng ghi số đề với L, cách th c:

Dựa vào kết quả xổ số kiến thiết hàng ngày của công ty xổ số kiến thiết các tỉnh ph a nam và ph a bắc để xác định thắng thua với người mua đề. Nếu người mua đề chọn hai số ph h p với hai số của giải tám hoặc hai số cuối của giải đặc bi t, hoặc chọn bao lô hai số ph h p với hai số cuối của t t cả các giải của kết quả xổ số thì chủ đề phải trả cho họ g p 70 lần số tiền họ đã mua đề; nếu người mua đề chọn ba số ph h p với ba số của giải bảy hoặc ba số cuối của giải đặc bi t, hoặc chọn bao lô ba số ph h p với ba số cuối của các giải t giải bảy đến giải đặc bi t của kết quả xổ số thì chủ đề phải trả cho họ g p 600 lần số tiền họ đã mua đề. Còn ngư c lại, người mua đề chọn nh ng số không ph h p với kết quả xổ số, thì chủ đề đư c hưởng số tiền của người mua đề. Để khuyến kh ch đư c nhiều người mua đề, chủ đề quy định khuyến mãi cho người mua đề 20 /tổng số tiền mà họ mua đề.

Hàng ngày, V và L đi ghi số đề cho người mua đề. L ghi đề b ng đi n thoại số 0848984099 hoặc tờ phơ đề (người mua đề tự ghi rồi đưa phơ đề cho L hoặc viết lên tay của L) và nhận tiền của người mua đề. V ghi đề qua số đi n thoại 0943732057 của V và nhận tiền của người mua đề. Sau đó V là người tổng h p lại thành tin nhắn rồi chuyển qua số thuê bao 0788321468 cho B, B chuyển số đề cho một đối tư ng tên N (Chưa r lai lịch) để N t nh thắng thua với người mua đề. Đến sáng ngày hôm sau thì B s làm trung gian thay cho N để gặp V thanh toán tiền thắng thua và trả tiền hoa hồng cho V và L, V và L s thanh toán lại tiền thắng thua với người mua đề.

- Ngày 28-12-2019: Dựa vào kết quả sổ số kiến thiết của đài thành phố Hồ Ch Minh, L và V đã ghi đề cho 01 người mua đề (Chưa r lai lịch) với số tiền đánh bạc thể hi n trên tin nhắn là 1.057.000đ (Một tri u, không trăm năm mươi bảy nghìn đồng). Đối chiếu với kết quả xổ số thì người mua đề không trúng. Như vậy, số tiền d ng vào vi c đánh bạc của N, B, L và V là 1.057.000đ (Một tri u, không trăm năm mươi bảy nghìn đồng).

- Ngày 29-12-2019:

Dựa vào kết quả sổ số kiến thiết của đài tỉnh Tiền Giang, L và V đã ghi đề cho 06 người mua đề (Chưa r lai lịch) với số tiền đánh bạc thể hi n trên phơ và tin nhắn là 12.294.000đ (Mười hai tri u, hai trăm ch n mươi bốn nghìn đồng). Đối chiếu với kết quả xổ số thì người mua đề trúng số tiền là 12.600.000đ (Mười hai tri u, sáu trăm nghìn đồng). Như vậy, số tiền d ng vào vi c đánh bạc của N, B, L và V là 24.894.000đ (Hai mươi bốn tri u, tám trăm, ch n mươi bốn nghìn đồng).

Dựa vào kết quả sổ số kiến thiết của đài tỉnh Kiên Giang, L và V đã ghi đề cho 01 người mua đề (Chưa r lai lịch) với số tiền đánh bạc thể hi n trên tin nhắn là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Đối chiếu với kết quả xổ số thì người mua đề không trúng. Như vậy, số tiền d ng vào vi c đánh bạc của N, B, L và V là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).

- Đến chiều ngày 29-12-2019 (khi chưa có kết quả mở thưởng), dựa vào kết quả sổ số kiến thiết của đài thành phố Hồ Ch Minh vào ngày 30-12-2019: L và V đã ghi đề cho 03 người mua đề (Chưa r lai lịch) với số tiền đánh bạc thể hi n trên tin nhắn là 2.720.000đ (Hai tri u, bảy trăm, hai trăm nghìn đồng), sau khi tr tiền khuyến mãi số tiền còn lại là 2.140.000đ (Hai tri u, một trăm, bốn trăm nghìn đồng) nhưng người ghi đề còn thiếu n . Như vậy, số tiền d ng vào vi c đánh bạc của N, B, Lvà V là 2.720.000đ (Hai tri u, bảy trăm, hai trăm nghìn đồng).

Khoảng 17 giờ ngày 29-12-2019, V đang trên đường tiếp tục đi ghi số đề thì bị công an phường P phát hi n thu gi đi n thoại hi u Samsung của V có ch a các tin nhắn ghi số đề. Công an phường P mời Lê Văn B, Phan Thị Kim L lên làm vi c và chuyển hồ sơ lên Công an thành phố Biên Hòa để xử lý theo thẩm quyền. Ngày 30-12-2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiến hành bắt khẩn c p đối với B, L và V.

Quá trình điều tra, các bị can khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật ch ng thu gi gồm:

- 01 đi n thoại hi u Samsung số thuê bao 0943732057 số Imei: 353924050748510 của Phan Thị Thúy V ch a các tin nhắn ghi số đề.

- 01 đi n thoại Nokia số thuê bao 0848984099 số Imei: 351831074041990 của Phan Thị Kim L ch a tin nhắn ghi số đề.

- 01 đi n thoại di động hi u Samsung số Imei: 354868101411819 (không gắn sim) của Lê Văn B khai nhận d ng vào vi c ghi đề.

- 4.740.000đ (Bốn tri u, bảy trăm, bốn mươi nghìn đồng) là tiền bán vé số mà có của V, không liên quan đến vi c phạm tội.

Quá trình điều tra:

- Lê Văn B khai sau khi nhận phơ đề của L và V, B giao lại cho một người đàn ông tên N (Không r lai lịch) để N thắng thua với người mua đề và chi tiền hoa hồng cho L và V, B không thu l i b t ch nh. Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V thu l i b t ch nh đư c 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) L và V đã c ng tiêu xài hết.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra đã công văn gửi đến Viettel, Vinaphone để xác minh chủ thuê bao của các số đi n thoại mà các đối tư ng (Chưa r lai lịch) đã d ng để thực hi n hành vi đánh bạc b ng hình th c ghi số đề. Hi n chưa có kết quả trả lời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục xác minh làm r , xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 325/CT-VKSBH ngày 05/6/2020 của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Lê Văn B, Phan Thị Kim L và Phan Thị Thúy V về tội Tổ ch c đánh bạc theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Tại phiên tòa, Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn gi nguyên quan điểm truy tố các bị cáo đã phạm vào tội Tổ ch c đánh bạc như đã nêu trên.

Do đó đề nghị: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo B. Đề nghị xử phạt:

Bị cáo Lê Văn B: t 01 năm đến 01 năm 06 tháng t .

Bị cáo Phan Thị Kim L: T 60.000.000đ (sáu mươi tri u đồng) đến 80 (tám mươi tri u đồng).

Bị cáo Phan Thị Thúy V: T 50.000.000đ (năm mươi tri u đồng) đến 70 (bảy mươi tri u đồng).

Đối với nh ng đối tư ng (chưa r lai lịch) tham gia đánh bạc b ng hình th c mua số đề với Lê Văn B, Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V và vi c B khai nhận giao phơ đề cho đối tư ng tên N (Chưa r lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục điều tra làm r , xử lý sau.

Đối với 03 lần thực hi n hành vi tổ ch c đánh bạc của Lê Văn B, Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V vào ngày 28-12-2019 dựa vào kết quả xổ số kiến thiết thành phố Hồ Ch Minh, vào ngày 29-12-2019 dựa vào kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Kiên Giang và ngày 30-12-2019 dựa vào kết quả xổ số kiến thiết thành phố Hồ Ch Minh đều dưới 5.000.000đ (Năm tri u đồng). Do số tiền d ng vào vi c đánh bạc chưa đến m c truy c u trách nhi m hình sự nên không truy tố đối với các bị cáo tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần.

Xử lý vật ch ng:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 đi n thoại hi u Samsung số thuê bao 0943732057 số Imei: 353924050748510 của Phan Thị Thúy V, 01 đi n thoại Nokia số thuê bao 0848984099 số Imei: 351831074041990 của Phan Thị Kim L, 01 đi n thoại di động hi u Samsung số Imei: 354868101411819 của Lê Văn B do d ng vào vi c tổ ch c đánh bạc.

- Tuyên buộc Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V nộp lại số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền thu l i b t ch nh để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Tiếp tục tạm gi 4.740.000đ (Bốn tri u, bảy trăm, bốn mươi nghìn đồng) của V để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài li u trong hồ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều h p pháp.

Về tội danh:

Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo Lê Văn B, Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo ph h p với lời khai trong biên bản h i cung bị can cùng các tài li u, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án đã đư c thẩm tra tại phiên tòa.

Do đó, đủ cơ sở kết luận: Lê Văn B, Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V đã có hành vi tổ ch c đánh bạc b ng hình th c ghi số đề cho nh ng người mua đề. Các bị cáo dựa vào kết quả xổ số kiến thiết của các công ty xổ số kiến thiết các tỉnh ph a Nam và ph a Bắc để xác định thắng thua với người mua đề. Trong ngày 29/12/2019, các bị cáo đã thực hi n hành vi phạm tội với số tiền d ng vào vi c tổ ch c đánh bạc là 24.894.000đ (hai mươi bốn tri u tám trăm ch n mươi tư ngàn đồng).

T căn c trên, xác định hành vi của các bị cáo Lê Văn B, Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V đã phạm tội Tổ ch c đánh bạc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo là có căn c , đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về các tình tiết liên quan đến vi c quyết định hình phạt:

- Xét t nh ch t m c độ của hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây m t trật tự trị an tại địa phương, vì tự l i cá nhân thực hi n hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần áp dụng m c án nghiêm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo nh m răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ng a tội phạm.

Bị cáo Lê Văn B là người rủ rê bị cáo L và V c ng thực hi n hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo B có 01 tiền án về tội Đánh bạc chưa đư c xóa án t ch lại tiếp tục phạm tội thể hi n bị cáo xem thường pháp luật. Do đó cần xử bị cáo hình phạt t , cách ly bị cáo ra kh i cộng đồng một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo.

Bị cáo Phan Thị Kim L và Phan Thị Thúy V tham gia phạm tội với vai trò giúp s c, các bị cáo nhân thân chưa tiền án, tiền sự, hưởng l i số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng) không lớn. Hai bị cáo là chị em ruột có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo L không biết ch nên có phần hạn chế nhận th c pháp luật, có nơi cư trú r ràng. Do đó, xét th y không cần xử phạt t mà áp dụng hình phạt tiền đối với hai bị cáo cũng đủ răn đe đối với các bị cáo L và V.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự của các bị cáo:

Bị cáo Lê Văn Bphạm vào tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự:

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo L không biết ch a nên hạn chế nhận th c pháp luật, trong vụ án này bị cáo L và V là hai chị em ruột, có hoàn cảnh gia đình khó khăn đư c chính quyền địa phương nơi thường trú xác nhận; nhân thân chưa tiền án, tiền sự; bị cáo B có cha ruột là thương binh, bản thân bị cáo đang bị b nh đái tháo đường, viêm loét dạ dày, thoái hóa cột sống thắt lưng là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần m c hình phạt cho các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) các bị cáo còn có thể bị xử phạt tiền. Xét tính ch t, vai trò và nhân thân của bị cáo Lê Văn B cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với B để đảm bảo tính nghiêm minh. Riêng các bị cáo Phan Thị Kim L và Phan Thị Thúy V áp dụng hình phạt chính là phạt tiền do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo L và V.

Về xử lý vật ch ng và bi n pháp tư pháp:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 đi n thoại hi u Samsung số thuê bao 0943732057 số Imei: 353924050748510 của Phan Thị Thúy V, 01 đi n thoại Nokia số thuê bao 0848984099 số Imei: 351831074041990 của Phan Thị Kim L, 01 đi n thoại di động hi u Samsung số Imei: 354868101411819 của Lê Văn B do d ng vào vi c tổ ch c đánh bạc (theo biên bản giao nhận vật ch ng ngày 07/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

Bị cáo Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V phải nộp lại số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền thu l i b t ch nh để sung vào ngân sách Nhà nước (mỗi bị cáo phải nộp số tiền 75.000đ (bảy mươi lăm ngàn đồng)).

Tiếp tục tạm gi 4.740.000đ (Bốn tri u, bảy trăm, bốn mươi nghìn đồng) của bị cáo V để đảm bảo thi hành án (theo bien lai thu tiền số 000103 ngày 07/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

Về án ph : Các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về các v n đề khác:

Đối với nh ng đối tư ng (chưa r lai lịch) tham gia đánh bạc b ng hình th c mua số đề với Lê Văn B, Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V và vi c B khai nhận giao phơ đề cho đối tư ng tên N (Chưa r lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục điều tra làm r , xử lý sau.

Đối với 03 lần thực hi n hành vi tổ ch c đánh bạc của Lê Văn B, Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V vào ngày 28-12-2019 dựa vào kết quả xổ số kiến thiết thành phố Hồ Ch Minh, vào ngày 29-12-2019 dựa vào kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Kiên Giang và ngày 30-12-2019 dựa vào kết quả xổ số kiến thiết thành phố Hồ Ch Minh đều dưới 5.000.000đ (Năm tri u đồng). Do số tiền d ng vào vi c đánh bạc chưa đến m c truy c u trách nhi m hình sự nên không truy tố đối với các bị cáo tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Lê Văn B, Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V phạm tội Tổ ch c đánh bạc .

1. Căn c điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các bị cáo.

Áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52; Khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bi.

Áp dụng Luật phí và l phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

2. Xử phạt:

- Bị cáo Lê Văn B: 01 (một) năm t , thời hạn t t nh t ngày bị cáo vào trại giam thi hành án nhưng đư c tr đi thời gian bị tạm giam t ngày 30/12/2019 đến ngày 08/01/2020.

Xử phạt bổ sung bị cáo Lê Văn B số tiền 50.000.000đ (năm mươi tri u đồng).

- Xử phạt bị cáo Phan Thị Kim L: 50.000.000đ (năm mươi tri u đồng).

- Xử phạt bị cáo Phan Thị Thúy V: 50.000.000đ (năm mươi tri u đồng).

3. Về xử lý vật ch ng và bi n pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 đi n thoại hi u Samsung số thuê bao 0943732057 số Imei: 353924050748510 của Phan Thị Thúy V, 01 đi n thoại Nokia số thuê bao 0848984099 số Imei: 351831074041990 của Phan Thị Kim L, 01 đi n thoại di động hi u Samsung số Imei: 354868101411819 của Lê Văn B do d ng vào vi c tổ ch c đánh bạc (theo biên bản giao nhận vật ch ng ngày 07/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

Bị cáo Phan Thị Kim L, Phan Thị Thúy V mỗi bị cáo phải nộp lại số tiền 75.000đ (bảy mươi lăm ngàn đồng) tiền thu l i b t ch nh để sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Tiếp tục tạm gi 4.740.000đ (Bốn tri u, bảy trăm, bốn mươi nghìn đồng) của bị cáo V để đảm bảo thi hành án (theo biên lai thu tiền số 000103 ngày 07/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

4. Về án ph :

Các bị cáo Lê Văn B, Phan Thị Kim L và Phan Thị Thúy V mỗi bị cáo phải phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án ph hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ