vanban.org

Bản án 376/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 28/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn X trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 376/2017/HSST
Ngày 28/11/2017

NHÂN DANH

-

:

-

Bà Tạ Thị Hoa

Bà Trần Thị Minh

Bà Nguyễn Thị Lan

-

ghi biên bản phiên tòa:

Vi Thanh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Vân - Kiểm sát viên.

28

11

Trụ sở Tòa án nhân dân

416

08 tháng 11 năm 2017

395/2017/HSST-

14 tháng 11 năm 2017 Lò Văn X, sinh năm 1998

Yên Bái; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Đêu 4, xã N, thị xã N, tỉnh Y; Nơi ở: Không nơi ở cố định

Lao động tự do

10/12; Con ông Lò Văn C và bà Vì Thị X

739

31/8/2017;

, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo tại ngoại. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú - -

Người bị hại: Anh Vũ Đình L, sinh năm 1973. Nơi ĐKHKTT: Xóm 16, xã N, huyện N, tỉnh N. Nơi ở: Tổ 1, phường Y, quận H, Hà Nội -Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lò Văn X được anh Vũ Đình L thuê làm việc theo ngày tại tổ thợ xây do anh L quản lý tại Công ty Vạn Lộc có trụ sở tại Tổ 1, phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Ngày 30/4/2017, sau khi mượn chìa khóa kho từ anh Lò Văn K để cất máy móc vào trong kho theo yêu cầu của anh Vũ Đình L, X đã không trả lại luôn chìa khóa cho anh Ka. Khoảng 15 giờ cùng ngày, X được K là công nhân cùng làm tại công ty rủ cùng nhau trộm cắp tài sản trong kho, X đồng ý. X và K đến nhà kho và X dùng chìa khóa mở cửa nhà kho và vào trong lấy ra 01 máy Laze bắn cốt pha màu xanh; 01 máy khoan màu đỏ; 01 máy đục nhãn hiệu AFT và 01 cuộn cáp điện màu đen. X mang số tài sản này đi cất giấu ở gần kho bê tông của công ty, còn K đi sau và khóa cửa nhà kho. Đến 20 giờ ngày 30/4/2017, K và X ra chỗ cất giấu tài sản trộm cắp, K đứng chờ ở ngoài, X vào mang tài sản ra đưa cho K đi bán rồi mang tiền về chia nhau. K mang số máy móc trộm cắp đi đến khoảng 21 giờ Khải về đưa trả cho X chùm chìa khóa kho. X hỏi tiền bán tài sản thì K nói chưa có và K bỏ di. X không biết K bán tài sản cho ai và bán được bao nhiêu tiền.

Ngày 02/5/2017, anh L phát hiện bị mất số máy móc trên nên đã trình báo cơ quan công an. Quá trình điều tra đã xác định được Lò Văn X là người trộm cắp số máy móc của anh L. Đối tượng tên K cùng tham gia do không xác định được lai lịch cụ thể nên cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàng Mai đã tách tài liệu liên quan để điều tra làm rõ xử lý sau.

Bản cáo trạng số 383/CT-VKS ngày 07/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội: Truy tố Lò Văn X về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lò Văn X khai nhận ngày 30/4/2017, bị cáo đã cùng đối tượng tên K mở khóa kho để dụng cụ lao động của Công ty Vạn Lộc và bị cáo đã trực tiếp vào trong kho trộm cắp 01 máy Laze bắn cốt pha màu xanh; 01 máy khoan màu đỏ; 01 máy đục nhãn hiệu AFT và 01 cuộn cáp điện màu đen là tài sản của anh Vũ Đình L để nhờ ở trong kho. Sau đó, bị cáo đã giao tài sản trộm cắp cho K mang đi bán nhưng K không cho bị cáo biết bán ở đâu cho ai, được bao nhiêu tiền và K cũng không chia tiền bán tài sản cho bị cáo. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân quận Hoàng Mai truy tố là đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai

quyền công tố tại phiên tòa đã xác định: Ngày 30/4/2017, bị cáo Lò Văn X đã có hành vi trộm cắp 01 máy Laze bắn cốt pha màu xanh; 01 máy khoan màu đỏ; 01 máy đục nhãn hiệu AFT và 01 cuộn cáp điện màu đen có tổng trị giá 7.000.000 đồng của anh Vũ Đình L. Hành vi của bị cáo Lò Văn X đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h và p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích nêu trên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai ng.

khoản 1 Điều 138, điểm b, h và p khoản 1 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự:

-

08

10 tháng cho hưởng án treo. Hạn thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng.

-

.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Vũ Đình L đã được gia đình bị cáo bồi thường trị giá tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên không giải quyết.

Bị cáo Lò Văn X không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự

luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn X không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Lò Văn X tại phiên tòa với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người

cùng các tài liệu

khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 30/4/2017, lợi dụng việc đươc chủ sở hữu tài sản là anh Vũ Đình L tin tưởng giao cho việc cất giữ dụng cụ lao động vào trong kho, sau khi mở khóa kho để cất tài sản, bị cáo Lò Văn X không trả lại chìa khóa kho ngay mà giữ lại rồi cùng với đối tượng tên Khải mở khóa nhà kho tại tổ 1, phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, Hà Nội để trộm cắp tài sản. Lò Văn X trực tiếp mở khóa nhà kho, đối tượng tên Khải đúng ngoài cảnh giới để Lò Văn X trực tiếp vào kho trộm cắp tài sản gồm: 01 máy Laze bắn cốt pha màu xanh; 01 máy khoan màu đỏ; 01 máy đục nhãn hiệu AFT và 01 cuộn cáp điện màu đen có tổng trị giá 7.000.000 đồng thuộc sở hữu của anh Vũ Đình L mang đi cất giấu, sau đó đưa cho Khải mang đi tiêu thụ. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Lò Văn X đã gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của mình xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ.

Hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn X đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự.

Đối tượng tên K cùng tham gia trộm cắp với Lò Văn X do không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể nên ngày 20/10/2017, cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàng Mai đã có Quyết định tách tài liệu liên quan đến đối tượng K để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

Vì vậy, cáo trạng số 383/CT-VKS ngày 07/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố đề nghị xét xử bị cáo Lò Văn X về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn X không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, tài sản mà bị cáo X trộm cắp không thu hồi được nhưng gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục bồi thường thiệt hại cho anh Vũ Đình L. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo Lò Văn X khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h và điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

.

Bị cáo Lò Văn X là người dân tộc thiểu số (dân tộc Thái) có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo phải xử lý nghiêm khắc để bị cáo lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân nhưng không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vì bị cáo Lò Văn X có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù cho hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục bị cáo để bị cáo sửa chữa những sai lầm của mình có cơ hội trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có khả năng kinh tế nên miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Vũ Đình L đã được bồi thường thiệt hại về tài sản, không yêu cầu gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không phải xét.

.

và quyền kháng cáo:

Điều 23

I

Lò Văn X

, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 231; Điều 234 Bộ luật tố tụng Hình sự.

,

QUYẾ

:

Căn cứ khoản 1 Điều 138; điểm b, h và p khoản 1 Điều 46; Khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự; Điều 99; Điều 231; Điều 234 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ Điều 23

I

ban hành kèm theo Nghị quyết.

1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

-

: Bị cáo Lò Văn X 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo. Hạn thử thách 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND xã N, thị xã N, tỉnh Y giám sát giáo dục trong thời hạn thử thách của bản án. Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

-

Miễn phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã được bồi thường không yêu cầu nên Tòa không xét.

3. Về án phí: Bị cáo Lò Văn X

chịu 200.000 (

)

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án. -

– - - -

- Bị hại; -

./.

Tạ Thị Hoa

Cỡ chữ