- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cung ứng dịch vụ — án kinh doanh thương mại — "Công ty TNHH A/ Công ty TNHH B"
- Tòa quyết gì? dân sự năm 2015; Khoản 1, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 374/2018/KDTM-PT Ngày: 16/4/2018 V/v: “Tranh chấp hợp đồng gia công |
may mặc”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Toại.
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Hồng Ân.
2. Bà Vũ Thị Thu Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hồng - Thư ký Tòa án Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Thân
Trọng Minh Phương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 16/4/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2018/TLPT-KDTM ngày
25 tháng 01 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng gia công may mặc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 127/2017/KDTM-ST ngày 20 tháng 11 năm
2017 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh bị Bị đơn kháng
cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1222/2018/QĐ-PT
ngày 20 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số
2112/2018/QĐ-PT ngày 05/4/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH A. (Tên gọi cũ: Công ty TNHH TM DV May
mặc A).
Địa chỉ: Đường T, phường R, Quận P, TP.HCM.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn N, sinh năm 1960
Địa chỉ: Đường V, Phường Y, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo văn
bản ủy quyền ngày 08/5/2017)
2. Bị đơn: Công ty TNHH B.
Địa chỉ: Đường H, phường F, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê B, sinh năm 1979. Chức danh: Giám đốc.
Địa chỉ: Đường T, Phường P, quận G, TP.HCM.
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm:
* Đại diện Nguyên đơn trình bày:
Ngày 12/8/2016, Công ty TNHH B (sau đây gọi tắt là Công ty B) ký Hợp
đồng may mặc số SO 023/08/2016/DFF-TT với Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ may mặc A (thay đổi tên gọi thành Công ty TNHH A từ ngày 02/12/2016, sau đây gọi tắt là Công ty A). Theo đó Công ty B là bên đặt hàng, Công ty A là bên nhận gia công. Công ty A đã thực hiện xong hợp đồng và yêu cầu Công ty B thanh toán tiền gia công.
Ngày 08/12/2016, Công ty B ký cam kết sẽ thanh toán dứt điểm vào ngày
26/12/2016, nếu không trả đúng ngày thì sẽ bị tính thêm lãi theo lãi Ngân hàng, nếu thanh toán sau ngày 02/01/2017 sẽ chịu thêm tiền phạt và bồi thường thiệt hại cho Công ty A.
Ngày 26/12/2016, Công ty A lập giấy đề nghị Công ty B thanh toán
287.587.900 (Hai trăm tám mươi bảy triệu năm trăm tám mươi bảy ngàn chín trăm) đồng và xuất hóa đơn Ký hiệu số TT/16P số 0000038 ngày 26/12/2016 gửi cho Công ty B. Ngày 28/12/2016, Hóa đơn và giấy đề nghị được giao trực tiếp cho Công ty B có biên bản giao nhận. Sau ngày 28/12/2016, Công ty A nhiều lần điện thoại, gửi thư điện tử email, yêu cầu thanh toán nợ nhưng Công ty B không trả lời. Để bảo vệ quyền lợi của mình, Công ty A khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết theo pháp luật, theo thỏa thuận ghi tại điều 8.1 của Hợp đồng vì giữa hai bên không tự giải quyết được. Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn:
1/ Buộc Công ty B phải trả cho Công ty A số tiền nợ gốc: 287.587.900
(Hai trăm tám mươi bảy triệu năm trăm tám mươi bảy ngàn chín trăm) đồng theo Giấy cam kết lập ngày 08/12/2016 và Hóa đơn số 0000038 ngày 26/12/2016 Công ty A đã gửi cho Công ty B kèm theo đề nghị thanh toán.
2/ Buộc Công ty B phải trả thêm tiền lãi quy định tại Điều 7 Mục 5 của
Hợp đồng may mặc số SO 023/08/2016/DFF-TT lập ngày 12/08/2016 và theo Giấy cam kết lập ngày 08/12/2016, tính từ ngày 26/12/2016 tạm tính đến ngày hòa giải 25/7/2017 bằng 4 tháng chậm trả thành tiền: 287.587.900 đồng x lãi 0,5%/tháng x 6 tháng = 8.627.537 đồng. Tiền lãi còn phát sinh đến ngày Công ty B thanh toán dứt điểm số tiền nợ.
3/ Buộc Công ty B phải trả thêm tiền phạt qui định tại Điều 7 Mục 4 của
Hợp đồng may mặc số SO 023/08/2016/DFF-TT lập ngày 12/08/2016 và theo ghi tại mục 2 giấy cam kết lập ngày 08/12/2016. Số tiền phạt vi phạm hợp đồng cụ thể: 287.587.900 đồng nợ thanh toán x 8% = 23.007.032 đồng.
Tổng số tiền yêu cầu tạm tính đến ngày hòa giải 25/7/2017 bằng
319.222.469 đồng, gồm:
Nợ gốc: 287.587.900 đồng
Tiền lãi: 287.587.900 đồng x 0.5% x 6 tháng = 8.627.537 đồng
Phạt vi phạm hợp đồng: 287.587.900 đồng x 8% = 23.007.032 đồng
Yêu cầu trả một lần ngay khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu
lực pháp luật.
Ngày 20/10/2017, đại diện nguyên đơn trình bày cho rằng lỗi vi phạm về
thời gian thực hiện hợp đồng là do phía bị đơn. Đối với yêu cầu phản tố của bị
đơn về việc giao trả nguyên phụ liệu và trả 600 áo là không có cơ sở vì Công ty
A đã giao trả đủ được thể hiện trong Phiếu xuất kho ngày 10/12/2016 nên không
chấp nhận.
Đối với việc bị đơn yêu cầu trả 54.626.760 đồng phí vận chuyển bằng
đường hàng không. Về yêu cầu này phía nguyên đơn chỉ chấp nhận một phần
căn cứ vào bản cam kết giữa hai bên ký ngày 08/12/2016 thì phía nguyên đơn
chỉ chịu trách nhiệm trả phí vận chuyển của 03 thùng hàng tương đương với số
tiền là 1.388.815 đồng.
Đối với việc bị đơn yêu cầu trả số tiền chi phí kiểm định là 18.171.600
đồng, phía nguyên đơn không chấp nhận vì căn cứ vào bản cam kết ngày
08/12/2016 hai bên đã thỏa thuận phí kiểm định chất lượng là 1.300 USD, mỗi
bên chịu ½ là 650 USD khi xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho phía bị đơn, nguyên
đơn đã trừ khoản tiền 650 USD quy đổi tiền Việt Nam đồng là 14.768.000 đồng.
* Đại diện Bị đơn trình bày:
Công ty B không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty A do nguyên
đơn đã vi phạm hợp đồng, cụ thể: Giao hàng trễ hạn và không giao đủ số lượng
hàng theo hợp đồng. Theo phiếu xuất kho của Công ty A thì ngày 08/12/2016,
lượng hàng xuất cho Công ty B còn thiếu 12 thùng tương đương 600 cái áo do
đó yêu cầu Công ty A phải bồi thường cho bị đơn cụ thể như sau:
Phạt hợp đồng 1% cho mỗi ngày giao hàng trễ, thiếu số lượng, không đạt
chất lượng từ ngày 08/12/2016 đến ngày 02/8/2017 là 355 ngày: 726.808.500
đồng x 1% x 355 ngày = 2.580.170.175 đồng.
Phạt 8% giá trị hợp đồng do thực hiện không đầy đủ hợp đồng:
726.808.500 đồng x 8% = 58.144.680 đồng.
Chi phí xuất hàng trễ, xuất hàng bằng đường hàng không do trễ hàng, chi
phí xe container hai lần: 54.626.760 đồng.
Sản xuất hàng không đạt chất lượng dẫn đến việc phải kiểm định lần 2 và
lần 3 số tiền chi phí là (508 USD + 289 USD) x 22.695 đồng = 18.087.915 đồng.
Tổng cộng các khoản Công ty B yêu cầu Công ty A bồi thường thiệt hại là
2.711.029.530 (Hai tỷ bảy trăm mười một triệu không trăm hai mươi chín ngàn
năm trăm ba mươi) đồng.
Tại bản tự khai ngày 06/9/2017, ông Lê Bình Phương đại diện theo pháp
luật của Công ty B có yêu cầu thay đổi nội dung yêu cầu phản tố, cụ thể:
Đề nghị Công ty A trả lại nguyên phụ liệu còn dư + giao số hàng còn
thiếu theo hợp đồng là 600 cái áo + thanh toán các khoản chi phí do xuất hàng trễ nên phải vận chuyển bằng đường hàng không và xe vận chuyển là 54.626.760 đồng + Chi phí kiểm định là 18.171.600 đồng + phạt vi phạm hợp đồng là 58.144.680 đồng = 130.943.040 đồng.
Bản án dân sự sơ thẩm số 127/2017/KDTM-ST ngày 20 tháng 11 năm
2017 của Tòa án nhân dân Quận 7, đã tuyên xử như sau:
Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn Công ty TNHH B.
Về nội dung:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH A.
1/ Buộc Công ty TNHH B phải trả cho Công ty TNHH A số tiền nợ gốc:
286.199.085 đồng + tiền lãi là 15.353.217 đồng + tiền phạt vi phạm hợp đồng là 22.895.926 đồng = 324.448.228 (Ba trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm bốn mươi tám ngàn hai trăm hai mươi tám) đồng. Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành. Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Trường hợp Công ty TNHH B chậm thanh toán số tiền nêu trên cho Công
ty TNHH A thì Công ty TNHH B còn phải trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
2/ Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH B về việc phạt hợp
đồng 1% cho mỗi ngày giao hàng trễ, thiếu số lượng, không đạt chất lượng từ ngày 08/12/2016 đến ngày 02/8/2017 là 355 ngày: 726.808.500 đồng x 1% x 355 ngày = 2.580.170.175 đồng do bị đơn rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa.
Đình chỉ đối với những phần yêu cầu phản tố khác do bị đơn vắng mặt
không có lý do.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các
đương sự.
Ngày 21/12/2017, Công ty B nộp đơn kháng cáo (qua đường Bưu điện)
yêu cầu Công ty A giao số hàng còn thiếu là 600 cái áo theo hợp đồng và giao nguyên phụ liệu còn dư sau khi sản xuất cho Công ty B. Yêu cầu Công ty A thanh toán cho Công ty B số tiền là 130.943.040 đồng, gồm chi phí giao hàng trễ phải vận chuyển bằng đường hàng không là 54.626.760 đồng + chi phí kiểm định là 18.171.600 đồng + phạt vi phạm hợp đồng là 58.144.680 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng
xét xử bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét
xử sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh- Bà Thân
Trọng Minh Phương- phát biểu có nội dung chính như sau: Nhận thấy Thẩm
phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuân thủ đúng thủ tục tố tụng, các đương
sự chấp hành đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thừa nhận nội dung bản án sơ
thẩm do Hội đồng xét xử tóm tắt là đúng như bản án sơ thẩm và không có đương
sự nào cung cấp thêm chứng cứ mới. Xét Tòa án nhân dân Quận 7, TP.HCM thụ
lý giải quyết tranh chấp về “hợp đồng gia công may mặc”, giữa Công ty A với
Công ty B là đúng trình tự, thủ tục thẩm quyền. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn
nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên đơn kháng cáo hợp lệ.
[2] Xét đơn kháng cáo của bị đơn yêu cầu Công ty A giao số hàng còn
thiếu là 600 cái áo theo hợp đồng và giao nguyên phụ liệu còn dư sau khi sản
xuất cho Công ty B. Công ty A thanh toán cho Công ty B số tiền là 130.943.040
đồng, gồm chi phí giao hàng trễ phải vận chuyển bằng đường hàng không là
54.626.760 đồng + chi phí kiểm định là 18.171.600 đồng + phạt vi phạm hợp
đồng 58.144.680 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: yêu cầu kháng
cáo của bị đơn là nội dung yêu cầu phản tố mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải
quyết vì bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm
không vì sự kiện bất khả kháng hoặc có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó cấp
phúc thẩm không thể xem xét giải quyết yêu cầu này của bị đơn; khi cần bị đơn
có quyền khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để được xem xét giải quyết bằng
vụ án khác. Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận, Hội đồng xét xử
giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm
theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1, Điều 308; Khoản 1, Điều 148; Điều 313 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015; Khoản 1, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH B, giữ nguyên
Bản án dân sự sơ thẩm số 127/2017/KDTM-ST ngày 20/11/2017 của Tòa án
nhân dân Quận 7, TP.HCM.
Cụ thể tuyên:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH A.
1/ Buộc Công ty TNHH B phải trả cho Công ty TNHH A số tiền nợ gốc:
286.199.085 đồng + tiền lãi là 15.353.217 đồng + tiền phạt vi phạm hợp đồng là 22.895.926 đồng = 324.448.228 (Ba trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm bốn mươi tám ngàn hai trăm hai mươi tám) đồng. Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành. Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Trường hợp Công ty TNHH B chậm thanh toán số tiền nêu trên cho Công
ty TNHH A thì Công ty TNHH B còn phải trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
2/ Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH B về việc phạt hợp
đồng 1% cho mỗi ngày giao hàng trễ, thiếu số lượng, không đạt chất lượng từ ngày 08/12/2016 đến ngày 02/8/2017 là 355 ngày: 726.808.500 đồng x 1% x 355 ngày = 2.580.170.175 đồng do bị đơn rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa.
Đình chỉ đối với những phần yêu cầu phản tố khác do bị đơn vắng mặt
không có lý do.
3/ Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Bị đơn phải chịu án phí là 22.700.122 (Hai mươi hai triệu bảy trăm ngàn
một trăm hai mươi hai) đồng.
Bị đơn được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí tương ứng đối với phần giá
trị yêu cầu phản tố đã rút, cụ thể là 41.801.702 đồng nhưng được trừ vào số tiền án phí phải chịu nêu trên. Do đó, bị đơn được hoàn lại số tiền chênh lệch tạm ứng án phí đã đóng là 19.101.580 (Mười chín triệu một trăm lẻ một ngàn năm trăm tám mươi) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0024265 ngày 14/8/2017 do Chi cục thi hành án dân sự Quận 7 lập.
Hoàn lại nguyên đơn số tiền 7.908.667 (Bảy triệu chín trăm lẻ tám ngàn
sáu trăm sáu mươi bảy) đồng tạm ứng án phí đã đóng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2012/07865 ngày 23/5/2017 do Chi cục thi hành án dân sự Quận 7 lập.
- Án phí phúc thẩm Công ty TNHH B phải chịu 2.000.000 (Hai triệu)
đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng kháng cáo 2.000.000 (Hai triệu) đồng mà Công ty TNHH B đã nộp theo Biên lai thu số AA/2017/0024989 ngày 09/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, TP.HCM.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - TAND Quận 7; - Chi cục THADS Quận 7; - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Toại |