vanban.org

Bản án 370/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 27/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

Trần Văn L 18 (mười tám) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án bản án này. Miễn hình phạt bổ sung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TAND TP.THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 370/2017/HSST
Ngày: 27/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các hội thẩm nhân dân: 1.Ông Lê Đức Thọ

2. Ông Trần Tuấn Hưởng

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh H- Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2017 tại hội trường, Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 359/2017/HSST ngày 12/9/2017 đối với bị cáo:

Trần Văn L - sinh ngày 19/4/1975.

Trú tại: Tổ 6, phường L, Thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Văn hoá: lớp 5/12. Con «ng: Trần Văn S (đã chết), con bà: Trần Thị T, sinh năm 1942. Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là thứ tư; có vợ là Phan Thị Thanh M, sinh năm 1976, có 02 con chung.Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: - Tại bản án số 63/2007/HSST ngày 08/11/2007, Tòa án nhân thị xã Bắc Cạn, tỉnh Bắc Cạn xử phạt Trần Văn L 54 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Ngày 06/11/2012, Công an phường Tân Thịnh thành phố Thái Nguyên ra quyết định xử phạt hành chính số 58/QĐ-XPHC phạt Trần Văn L 1.500.000đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Ngày 03/8/2017, Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối Trần Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên trong một vụ án khác (có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại: Anh Lê Tuấn H, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Trú tại: Tổ C, phường L, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.

Người làm chứng:

Bà Hà Thị H, sinh năm 1928 (vắng mặt)

Chị Phạm Thị Thanh H, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Nguyễn Thanh P, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Đều trú tại: Tổ C, phường L, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.

Người có nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Thanh S, sinh năm 1972 (có mặt)

Trú tại: Tổ S, phường L, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Văn L bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 02/7/2017, Trần Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Attila, BKS: 20B1- 032.53 ( xe của vợ L là chị Phan Thị Thanh M) từ nhà tại tổ D, phường L, thành phố TH đi thị xã P, tỉnh Thái Nguyên để ăn giỗ. Khi đi đến khu vực tổ E, phường L, thành phố TH, L nhìn thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu S xanh đen bạc, BKS: 20B1-84733 dựng trước cửa nhà anh Lê Tuấn H. L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. L điều khiển xe Attila đi thêm một đoạn cách nhà anh H khoảng 70 mét rồi dựng xe trên vỉa hè và lấy tua vít ở trong cốp xe Attila ra đi bộ quay lại nhà anh H. Sau đó, L dùng tua vít phá khóa chiếc xe môtô Honda Wave, BKS: 20B1- 84733. L chỉ phá được khóa cổ không mở được khóa điện nên xe không nổ máy. L dắt xe đi bộ từ nhà anh H đi theo hướng thị xã P để tìm chỗ tiêu thụ xe. Đồng thời L vứt tua vít cùng ổ khóa vỡ ra phía lòng đường. Do trên đường đi L lo sợ bị phát hiện nên đã dắt xe vào một ngõ nhỏ trên đường. L để xe vào khu vực bãi đất trống gần sân nhà bà Hà Thị H, đợi thời cơ thuận lợi sẽ quay lại lấy xe mang đi bán. Sau đó, L quay ra ngoài lấy xe Attila đi ra khu vực ngã ba Tích Lương, thành phố Thái Nguyên mua ma túy sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, L đi đến nhà anh Lê Thanh S để mượn tua vít của S với mục đích mang đi phá khóa điện của xe mô tô Honda Wave vừa trộm cắp được. L nhờ anh S chở bằng xe Attila của L ra khu vực cổng trường Đại học kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên. Sau đó anh S đi xe về còn L xuống đi bộ ra khu vực ngõ vừa cất giấu xe Honda Wave. Khi ra gần đến nơi thì L dừng lại ở một cửa hàng thu mua phế liệu hỏi giá phế liệu với mục đích nếu được giá sẽ mang chiếc xe Honda Wave vừa trộm cắp được ra để bán nhưng chưa kịp bán thì bị quần chúng nhân dân khống chế bắt giữ lại và báo Cơ quan Công an lập biên bản sự việc. Qúa trình kiểm tra, Cơ quan công an còn thu giữ 01 tua vít, tay cầm bằng nhựa màu đen vàng tại túi quần bên trái L đang mặc và 01 ổ khóa của xe Honda Wave, BKS: 20B1- 84733, đã bị phá hỏng.

Tại kết luận số 211/HĐĐGTS ngày 03/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, đã qua sử dụng, BKS 20B1 – 847.33 trị giá 15.300.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

- 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu S xanh đen bạc, BKS: 20B1-84733, SK: 125XFY297278, SM: HC12E7297408, đã qua sử dụng. Hiện đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Tuấn H quản lý, sử dụng.

- 01 tua vít mà L đã dùng để phá khóa cổ xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 847.33, không thu hồi được.

- 01 tua vít tay cầm bằng nhựa màu đen vàng, đã qua sử dụng và 01 ổ khóa của xe Honda Wave, BKS: 20B1- 84733, đã bị phá hỏng. Hiện đang được bảo quản và lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 377KSĐT- KT ngày 12/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm g, p khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù giam. Miễn hình phạt bổ sung.

- Trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

- Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo phải nộp án phí HSST vào ngân sách nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc xét xử là không oan, đúng người đúng tội. Bị cáo xin giảm nhẹ mức án.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đó được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đánh giá toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử:

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ nội dung vụ án, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường; biên bản bắt người, biên bản nhận dạng, lời khai người bị hại, người có nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 09 giờ ngày 02/7/2017 tại khu vực Tổ C, phường L, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên, Trần Văn L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, mầu S xanh đen bạc, BKS: 20B1 -847.33, trị giá tài sản là 15.300.000 đồng của anh Lê Tuấn H. Hành vi nêu trên của bị cáo L đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản viện dẫn nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Khoản 1 Điều 138 BLHS quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương và gây dư luận xấu trong xã hội nên phải có mức hình phạt tương xứng với tội trạng của bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, nghiện ma túy, đã bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy; đã bị xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; sau khi gây ra vụ án này bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, hiện đã bị khởi tố để điều tra...điều đó cho thấy bị cáo coi thường pháp luật. Trong vụ án này bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ là khai báo thành khẩn; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 48 BLHS.

Mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.

Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung bị cáo.

Trong vụ án này, L sửu dụng xe mô tô nhãn hiệu ATTILA, BKS 20B1 - 032.53 của vợ L là chị Phan Thanh M đi ăn giỗ, sau đó có hành vi trộm cắp tài sản nhưng chị M không biết L sử dụng xe đi trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Anh Lê Thanh S là người đã cho L mượn tua vít cầm tay mầu nhựa đen vàng nhưng khi cho L mượn anh S không biết L sử dụng để phá khóa xe mô tô trên nên Cơ quan điều tra không xem xét là có căn cứ.

Trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì. Anh S không yêu cầu bị cáo phải trả lại chiếc tô vít đã mượn và đã bị thu giữ nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về vật chứng của vụ án thu giữ: 01 tua vít tay cầm bằng nhựa mầu den vàng, đã qua sử dụng và 01 ổ khóa của xe Honda Wave, KS: 20B1 -847.33 đã bị phá hỏng không. Xét thấy chiếc tô vít là công cụ dùng vào việc phạm tội; chiếc ổ khóa đã cũ hỏng, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

1. Áp dụng Khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt:

- Trần Văn L 18 (mười tám) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án bản án này.

2. Miễn hình phạt bổ sung.

3. Trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS; căn cứ Điều 76 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 tô vít tay cầm bằng nhựa mầu đen vàng, đã qua sử dụng và 01 ổ khóa của xe Honda Wave, BKS: 20B1 -847.33 đã bị phá hỏng.

Vật chứng hiện được bảo quản tại kho của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo biên bản giao nhận vật chứng số 385 ngày 18/9/2017.

4. Án phí: Căn cứ Điều 99 BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 2016; Nghị quyết quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí HSST vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ