vanban.org

Bản án 37/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế, TP. Huế Tuyên án 05/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Viết T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Phan Nguyễn Hiếu T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Đối với bị cáo Lê Viết H Xử phạt bị cáo Lê Viết H 15 (mười lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Viết H và đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Viết T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Phan Nguyễn Hiếu T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2026/HS-ST
Ngày: 05-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Hải Yến và ông Nguyễn Hữu Trực.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Long - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2026/HSST ngày 09 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2026/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2026, đối với các bị cáo:

1. Lê Viết H, sinh ngày: 25/6/1994 tại thành phố Huế; số căn cước công dân: 046094000358; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường P, thành phố Huế; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Viết N và bà Nguyễn Thị B; chung sống như vợ chồng với chị: Tôn Nữ Mỹ P và có 01 con; tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 17/7/2025 đến ngày 25/7/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.

2. Lê Viết T, sinh ngày: 22/3/2005 tại thành phố Huế; số căn cước công dân: 046205003730; nơi cư trú: Số B đường N, phường A, thành phố Huế; nghề nghiệp: thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Viết T1 và bà Ngô Thị Hiền P1; vợ, con: chưa có; tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 17/7/2025 đến ngày 25/7/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.

3. Phan Nguyễn Hiếu T2, sinh ngày: 10/6/2005 tại thành phố Huế; số căn cước công dân: 046205012613; nơi cư trú: Số B đường P, phường T, thành phố Huế; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan T3 và bà Nguyễn Thị Hữu H1; có vợ là: Nguyễn Thị Nhật T4 và có 01 con; tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2025 cho đến ngày 12/12/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Tôn Nữ Mỹ P, sinh năm 2004; địa chỉ: số X đường P, phường K, thành phố Huế. Có mặt.

Người làm chứng: Chị Lê Thị Thanh T5, sinh năm 2004; địa chỉ: Tổ F, khu V, phường T, thành phố Huế. Có mặt.

Người chứng kiến: Anh Phan Văn Nhật H2, sinh năm 2001; địa chỉ: số F kiệt F đường P, phường K, thành phố Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Khoảng tháng 3/2025, thông qua mối quan hệ xã hội Lê Viết T quen biết và liên hệ đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch thường gọi là B1 ở khu vực đường V để mua ma tuý đem về cất giấu tại nơi ở rồi đem bán lại cho nhiều đối tượng khác nhau. Đến khoảng tháng 5/2025, Lê Viết H là bạn của T và biết Lê Viết T có mua bán trái phép chất ma tuý nên đã nhờ T liên hệ đối tượng bán ma túy để mua giúp ma tuý về bán lại. Vào khoảng 18 giờ 30 ngày 15/7/2025, Lê Viết H liên hệ cho Lê Viết T nhờ mua 01 hộp ma túy khay và 14 viên ma túy kẹo, T cũng cần mua thêm 01 hộp ma túy khay và 13 viên ma túy dạng kẹo để bán nên sử dụng mạng xã hội Signal liên hệ với B1 đặt mua 02 hộp ma tuý dạng khay và 27 viên ma tuý dạng kẹo. B1 báo giá tiền là 20.750.000 đồng và nhắn thông tin tài khoản ngân hàng qua cho T để T chuyển khoản tiền mua ma tuý trước. T đã chuyển khoản tiền mua ma túy của mình là 11.000.000 đồng qua cho H (trong đó có 500.000 đồng là tiền mượn trước đây), phần của H góp mua được T báo lại là 10.250.000 đồng và T đã chụp ảnh và chuyển thông tin tài khoản ngân hàng của B1 qua Zalo cho H để H chuyển khoản tiền mua ma tuý. H đã dùng tài khoản Vietinbank của mình, số tài khoản 106872940495 chuyển 20.750.000 đồng cho B1 và báo cho T biết. Đến khoảng 20 giờ 30 cùng ngày, theo hình ảnh vị trí nơi cất giấu ma túy do B1 gửi, T đến vị trí gần chùa T, phường T, thành phố Huế lấy gói ma túy đem về nhà và báo cho H đến lấy số ma túy của mình.

Vào khoảng 22 giờ 30 ngày 16/7/2025 Lê Viết T đến Cơ quan Công an tự thú về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Khám xét nhà của T, cơ quan điều tra thu giữ: 01 (một) cân điện tử màu đen có ghi dòng chữ "JSP POCKET SCALE", 01 (một) gói nilong màu đen bên trong có chứa nhiều gói ni lông màu trắng có viền màu đỏ chưa sử dụng, 17 viên nén và 03 gói ni long chứa chất tinh thể rắn màu trắng. T khai số viên nén và chất tinh thể rắn màu trắng thu giữ là ma túy dạng kẹo và dạng khay, trong đó có 01 gói ma túy khay và 13 viên ma túy kẹo là của lần mua chung với H, còn 04 viên ma túy kẹo và 02 gói ma túy dạng khay T đã mua của B1 trước đó.

Tiếp tục truy xét, vào lúc 03 giờ 30 ngày 17/7/2025, cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang Lê Viết H đang cùng với Phan Nguyễn Hiếu T2, đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đã thu giữ các đồ vật liên quan 01 đĩa sứ trên bề mặt đĩa có bám dính chất tinh thể rắn màu trắng; 01 thẻ nhựa, 01 ống hút, 01 chai dầu nhị Phật Linh; 01 loa; 01 đèn màu trắng; 01 bật lửa.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Viết H, cơ quan điều tra thu giữ: 37 viên ma túy dạng kẹo và 13 gói ni long chứa ma túy dạng khay. Trong đó có 01 hộp 10 ma túy khay và 14 viên kẹo là số ma túy mua chung với T, còn lại 23 viên ma túy dạng kẹo và 03 gói ni lông chứa ma túy khay là H khai mua trước đó một tháng với giá 6.000.000 đồng của một người không rõ nhân thân, lai lịch tại khu vực công viên A, phường H, thành phố Huế đem về cất giữ để bán.

Lê Viết H và Lê Viết T nhiều lần mua và bán ma túy cho nhiều người nhưng không biết rõ nhân thân, lai lịch và không nhớ thời gian cụ thể.

Ngày 17/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Huế giám định chất ma tuý đối với tang vật thu giữ trong vụ án.

+ Tại Bản kết luận giám định về ma túy số: 444/KL-KTHS ngày 22/7/2025 của Phòng KTHS Công an thành phố Huế kết luận:

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có tổng khối lượng là 14,5655g là ma túy, loại Ketamine;

- 04 (bốn) viên nén đều có màu xám gửi giám định có tổng khối lượng là 1,7447g là ma túy, loại MDMA và Ketamine;

- 07 (bảy) viên nén một mặt đều có màu hồng, mặt còn lại đều có màu xám gửi giám định có tổng khối lượng là 3,3310g là ma túy, loại MDMA.

- 06 (sáu) viên nén đều có màu xanh gửi giám định có tổng khối lượng là 3,2096g là ma tuý, loại MDMA.

+ Tại Bản kết luận giám định về ma túy số: 445/KL-KTHS ngày 23/7/2025 của Phòng KTHS Công an thành phố Huế kết luận:

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có tổng khối lượng là 1,3166g là ma tuý loại Ketamine.

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1514g là ma tuý loại Ketamine.

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng giử giám định có khối lượng là 13,5254g là ma tuý loại Ketamine

- 10 (mười) viên nén đều có màu xám gửi giám định có tổng khối lượng là 4,3429g là ma tuý loại MDMA và Ketamine.

- 13 (mười ba) viên nén đều có màu xanh gửi giám định có tổng khối lượng là 6,8475g là ma tuý loại MDMA.

- 13 (mười ba) viên nén đều có màu hồng, mặt còn lại đều có màu xám gửi giám định có tổng khối lượng là 5,9664g là ma tuý loại MDMA.

Viên nén màu xám gửi giám định có khối lượng là 0,3591g là ma tuý loại MDMA và Ketamine.

- Trên đĩa sứ màu trắng và ống hút được làm bằng tờ tiền 20.000 đồng gửi giám định có tìm thấy chất ma tuý loại Ketamine.

* Về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Vào khoảng 21 giờ 30 ngày 16/7/2025, Phan Nguyễn Hiếu T2 là bạn bè quen biết gọi điện thoại cho H rủ và nhờ H mua ma tuý về sử dụng với nhau thì H đồng ý (T2 không biết H có bán ma tuý). H nói T2 qua nhà trọ của H tại số X đường P, phường K, thành phố Huế để sử dụng. Một lúc sau, T2 đến và được H dẫn vào phòng của H. Tại đây, H đã xào sẵn ma tuý dạng khay để trên 01 đĩa sứ màu trắng và chuẩn bị các ống hút, loa, đèn, bật lửa để sử dụng ma tuý. T2 dùng tài khoản Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (tên viết tắt là Vietcombank), số tài khoản 9333277694 chuyển cho H 2.300.000 đồng. Quá trình sử dụng ma tuý, H lấy 01 viên ma tuý kẹo và bẻ làm hai phần, đưa cho T2 một nửa còn H sử dụng nửa viện ma tuý còn lại. Cả hai thay nhau sử dụng ma tuý cho đến khoảng 03 giờ ngày 17/7/2025 thì nghỉ, do còn một ít ma tuý khay trên đĩa sứ, H gom lại đổ vào 02 túi ni lông nhỏ và cất giữ với mục đích bán lại cho người khác. Đến khoảng 03 giờ 30 ngày 17/7/2025 thì bị cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ các tang vật có liên quan nói trên. Kết quả xét nghiệm H và T2 dương tính với chất ma túy.

Vật chứng và đồ vật tài liệu tạm giữ gồm:

Thu giữ tại nhà của Lê Viết T gồm:

- 01 (một) cân điện tử màu đen có ghi dòng chữ "JSP POCKET SCALE", dã qua sử dụng;

- 01 (một) gói nilong màu đen, bên trong có chứa các gói ni lông màu trắng có viền màu đỏ bên trong không chứa gì;

- 01 (một) gói nilong màu trắng, có viền màu đỏ bên trong chứa 04 (bốn) viên nén màu xám;

- 01 (một) gói nilong màu trắng, có viền màu đỏ bên trong chứa 07 (bảy) viên nén một mặt màu hồng, một mặt màu xám;

- 01 (một) gói nilong màu trắng, có viền màu đỏ bên trong chứa 06 (sáu) viên nén màu xanh;

- 03 (ba) gói nilong màu trắng, có viền màu đỏ bên trong đều có chứa tinh thể rắn màu trắng.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 16 Promax màu vàng, đã qua sử dụng, tạm giữ của Lê Viết T. (Bl: 49-56).

Thu giữ tại nhà của Lê Viết H gồm:

- 01 (một) đĩa sứ trên bề mặt đĩa có bám dính chất tinh thể rắn màu trắng;

- 01 (một) thẻ nhựa hình chữ nhật ngân hàng H4 mang tên “LE VIET HIEU";

01 (một) ống hút được quấn bằng tờ mệnh giá 20.000 đồng được quấn bằng vỏ đót thuốc lá;

- 01 (một) chai dầu nhị Phật Linh;

- 01 (một) loa màu đen có chữ “ZEALOT";

- 01 (một) đèn màu trắng;

- 01 (một) bật lửa;

- 01 (một) gói nilong màu trắng viền đỏ bên trong chứa 13 (mười ba) viên nén màu xanh;

- 01 (một) gói nilong màu trắng viền đỏ bên trong có chứa 13 (mười ba) xiên nén một mặt màu hồng, mặt còn lại màu xám và 01 (một) viên nén màu xám;

- 01 (một) gói nilong màu trắng viền đỏ bên trong chứa 10 (mười) viên nén màu xám;

- 02 (hai) gói nilong màu trắng viền đỏ bên trong mỗi gói có chứa 05 (năm) gói nilong màu trắng viền xanh tất cả bên trong đều chứa tinh thể rắn màu trắng;

- 01 (một) gói nilong màu trắng viền đỏ bên trong có 01 (một) gói nilong màu trắng viền đỏ bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng;

- 01 (một) cân điện tử màu đen có dòng chữ "POCKET SCALE", đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, vỏ lưng màu trắng đã qua sử dụng, tạm giữ của Phan Nguyễn Hiếu T2;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 16 Plus màu xanh, đã qua sử dụng, tạm giữ của Lê Viết H.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, đã qua sử dụng, tạm giữ của Tôn Nữ Mỹ P.

Về xử lý vật chứng và các đồ vật, tài liệu tạm giữ: Tiếp tục tạm giữ khối lượng ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng, đồ vật đang tạm giữ để phục vụ cho việc truy tố, xét xử và thi hành án.

Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSH-P1 ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố các bị cáo Lê Viết H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Viết T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Phan Nguyễn Hiếu T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lê Viết H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Viết T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Phan Nguyễn Hiếu T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt:

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Viết H từ 15 năm đến 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Viết H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Lê Viết H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là từ 18 năm đến 19 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s, r, t khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Viết T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phan Nguyễn Hiếu T2 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Buộc bị cáo Lê Viết H nộp lại số tiền 2.300.000 đồng nhận từ bị cáo T2 để sung vào ngân sách nhà nước.

+ Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau khi giám định, 01 (một) bật lửa, 01 (một) chai dầu nhị Phật Linh, 01 (một) đĩa sứ, 01 (một) đèn màu trắng, 01 (một) cân điện tử màu đen có ghi dòng chữ “JSP POCKET SCALE” đã qua sử dụng, 01 (một) cân điện tử màu đen có dòng chữ "POCKET SCALE" đã qua sử dụng, 01 (một) đèn màu trắng, 01 (một) thẻ nhựa hình chữ nhật ngân hàng HD Bank mang tên “ LE VIET HIEU”, 01 (một) loa màu đen có chữ “ZEALOT”.

+ Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) ống hút được quấn bằng tờ tiền Việt Nam mệnh giá hai mươi nghìn đồng.

+ Trả lại chị Tôn Nữ Mỹ P 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, đã qua sử dụng;

+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 16 Promax màu vàng, đã qua sử dụng, tạm giữ của Lê Viết T; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, vỏ lưng màu trắng đã qua sử dụng, tạm giữ của Phan Nguyễn Hiếu T2; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 16 Plus màu xanh, đã qua sử dụng, tạm giữ của Lê Viết H.

Ý kiến và lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét hành vi của các bị cáo, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định:

Ngày 15/7/2025, Lê Viết T và Lê Viết H góp tiền mua của 01 đối tượng tên “Bốp” 36,3828 gam ma túy loại MDMA và Ketamine mục đích để bán lại. Trong đó, khối lượng ma túy T mua là 16,5319 gam, H mua 19,8509 gam. Vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 16/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H khám xét nhà ở của Lê Viết T tại thôn N, phường P, thành phố Huế thu giữ 22,8508 gam loại MDMA và Ketamine, gồm 16,5319 gam mua chung với H và 6,3189 gam T mua trước đó chưa bán hết. Vào hồi 03 giờ 30 phút ngày 17/7/2025, tại nhà trọ số A đường P, phường K, thành phố Huế, Lê Viết H và Phan Nguyễn Hiếu T2 bị bắt quả tang đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra còn thu giữ của H 32,5156 gam MDMA và Ketamine, gồm 19,8509 gam mua với T và 12,6647 gam mua của 01 đối tượng không xác định được nhân thân H chưa bán hết. Lê Viết T và Lê Viết H góp tiền mua 36,3842 gam ma túy loại MDMA và Ketamine mục đích bán lại cho người khác nên phải chịu trách nhiệm chung về khối lượng ma túy trên với vai trò là đồng phạm thực hành. Ngoài ra T và H còn phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma túy mua riêng trước đó. Do đó, tổng khối lượng ma túy Lê Viết T phải chịu trách nhiệm hình sự là 42,7017 gam MDMA và Ketamine và Lê Viết H là 49,0475 gam MDMA và Ketamine.

Các bị cáo Lê Viết T, Lê Viết H và Phan Nguyễn Hiếu T2 là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội.

Lê Viết T mua bán ma túy với khối lượng 42,7017g MDMA và Ketamine; Lê Viết H mua bán ma túy với khối lượng 49,0475g MDMA và Ketamine nên đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Lê Viết H và Phan Nguyễn Hiếu T2 có hành vi chuẩn bị ma túy, địa điểm, công cụ để sử dụng ma túy cùng nhau nên đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Do đó, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét căn cứ quyết định hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, không có sự phân công, câu kết chặt chẽ giữa những người phạm tội, các bị cáo đều đóng vai trò là người thực hành.

Đối với hành vi Mua bán trái phép chất ma túy: Bị cáo H mua ma túy để tàng trữ nhằm mục đích bán lại cho người khác với khối lượng 49,0475g MDMA và Ketamine, bị cáo T mua ma túy để tàng trữ nhằm mục đích bán lại cho người khác với khối lượng 42,7017g MDMA và Ketamine; bị cáo T là người trực tiếp liên hệ mua và đi lấy ma túy, bị cáo H là người trực tiếp chuyển khoản tiền mua ma túy, do đó, bị cáo T và H đều phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò ngang nhau.

Đối với hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Phan Nguyễn Hiếu T2 là người rủ rê Lê Viết H mua ma túy về sử dụng chung và là người góp tiền mua ma túy cùng với H; Lê Viết H là người góp tiền, chuẩn bị địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để tổ chức sử dụng ma túy, chuẩn bị ma túy và công cụ để H và T2 sử dụng ma túy. Do đó, bị cáo Lê Viết H phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Phan Nguyễn Hiếu T2.

MDMA và Ketamine là các chất ma tuý gây nghiện, rất nguy hiểm cho sức khoẻ con người, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác; bị pháp luật nghiêm cấm; hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo H và T là đặc biệt nghiêm trọng; hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo H và T2 là nghiêm trọng. Do đó, cần có mức án nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Viết H có bà nội được Nhà nước tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có bố được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, có ông nội, bác ruột, chú ruột là liệt sĩ, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho cả hai tội. Do bị cáo Lê Viết H phạm hai tội nên cần áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội.

Bị cáo Lê Viết T đã tự thú khai ra hành vi phạm tội của mình trước khi bị phát hiện; bị cáo T đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm khác. Do đó, bị cáo T được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo Lê Viết T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cần áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Viết H và Lê Viết T có tên là B1, Cơ quan điều tra đã xác minh chủ tài khoản ngân hàng mà H đã chuyển tiền mua ma túy mang tên Trần Hữu H3, sinh năm 2005, trú tại số J đường N, phường A, thành phố Huế, (số tài khoản 0796139751 của ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội). Tuy nhiên, H3 không dùng tài khoản này từ tháng 6/2025 cho đến nay, đồng thời cho bị cáo T xác nhận ảnh chủ tài khoản ngân hàng cung cấp nhưng T xác định không phải là đối tượng tên “B1”, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an phường A xác minh nhưng không có kết quả.

Đối với Tôn Nữ Mỹ P (chung sống như vợ chồng với bị cáo Lê Viết H), quá trình H thực hiện mua ma túy H có sử dụng điện thoại của Mỹ P để liên lạc với T và sử dụng tài khoản ngân hàng để nhận và chuyển tiền; tuy nhiên Tôn Nữ Mỹ P không biết hoạt động mua bán trái phép chất ma túy của H nên không có căn cứ để xử lý.

. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Buộc bị cáo Lê Viết H phải nộp lại số tiền 2.300.000 đồng đã nhận từ bị cáo T2 góp mua ma túy để sung vào ngân sách nhà nước.

+ Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, sử dụng, mua bán, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 (một) bật lửa; 01 (một) chai dầu nhị Phật Linh; 01 (một) đĩa sứ; 01 (một) đèn màu trắng; 01 (một) cân điện tử màu đen có ghi dòng chữ “JSP POCKET SCALE” đã qua sử dụng; 01 (một) cân điện tử màu đen có dòng chữ "POCKET SCALE", đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ nhựa hình chữ nhật ngân hàng H4 mang tên “ LE VIET HIEU”; 1 (một) loa màu đen, có chữ “ZEALOT”; đây là những công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, có giá trị không lớn, cần tịch thu tiêu huỷ.

+ Đối với tờ tiền Việt Nam mệnh giá hai mươi nghìn đồng; là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 16 Promax màu vàng, đã qua sử dụng, tạm giữ của Lê Viết T; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, vỏ lưng màu trắng đã qua sử dụng, tạm giữ của Phan Nguyễn Hiếu T2; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 16 Plus màu xanh, đã qua sử dụng, tạm giữ của Lê Viết H, đây là điện thoại các bị cáo T và T2 sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, đã qua sử dụng thu giữ của Tôn Nữ Mỹ P thì P không biết H sử dụng vào mục đích gì, nên cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Viết T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Phan Nguyễn Hiếu T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1.1. Đối với bị cáo Lê Viết H

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Viết H 15 (mười lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Viết H 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của 02 tội. Buộc bị cáo Lê Viết H phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 18 (mười tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 17/7/2025).

1.2. Đối với bị cáo Lê Viết T.

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s, r, t khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Viết T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 17/7/2025).

1.3. Đối với bị cáo Phan Nguyễn Hiếu T2

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Nguyễn Hiếu T2 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2025 cho đến ngày 12/12/2025.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

- Buộc bị cáo Lê Viết H nộp lại số tiền 2.300.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau khi giám định và 01 (một) bật lửa; 01 (một) chai dầu nhị Phật Linh; 01 (một) đĩa sứ; 01 (một) đèn màu trắng; 01 (một) cân điện tử màu đen có ghi dòng chữ “JSP POCKET SCALE” đã qua sử dụng; 01 (một) cân điện tử màu đen có dòng chữ "POCKET SCALE", đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ nhựa hình chữ nhật ngân hàng HD Bank mang tên “ LE VIET HIEU”; 1 (một) loa màu đen, có chữ “ZEALOT”.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá hai mươi nghìn đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 16 Promax màu vàng, đã qua sử dụng (tạm giữ của Lê Viết T); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, vỏ lưng màu trắng đã qua sử dụng (tạm giữ của Phan Nguyễn Hiếu T2); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 16 Plus màu xanh, đã qua sử dụng (tạm giữ của Lê Viết H).

- Trả lại cho chị Tôn Nữ Mỹ P 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, đã qua sử dụng.

Các vật chứng trên được chuyển theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ-VKSH-P1 và 15/QĐ-VKSH-P1 cùng ngày 08/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế và biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Huế.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Lê Viết H, Lê Viết T, Phan Nguyễn Hiếu T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án sơ thẩm xét xử công khai, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ