vanban.org

Bản án 37/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 18/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tô Viết T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, 2 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Xử phạt: Tô Viết T 01 năm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Viết Tùng phạm tội buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tô Viết T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST
Ngày 18 tháng 4 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đỗ Thành Công

Các hội thẩm nhân dân: bà Vũ Thị Thanh Hương, ông Phùng Văn Thông

Thư ký phiên toà: ông Lê Xuân Chín - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: bà Trương Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên. Ngày 18 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST - HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tô Viết T, sinh ngày 06 tháng 3 năm 1991 Nơi cư trú: thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tô Viết N và bà: Trần Thị T1; Vợ là Bùi Thị Thu T2; có 03 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án,Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/12/2024 đến 16/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 15 phút ngày 10/12/2024, tổ công tác Công an huyện V phối hợp với Công an xã B (nay là xã L), huyện V đang tuần tra, kiểm soát, đảm bảo an ninh trật tự tại đoạn đường Q thuộc thôn P, xã B, huyện V thì phát hiện Tô Viết T, sinh năm 1991, trú tại thôn B, xã Đ, huyện Y đang dừng đỗ xe máy điện nhãn hiệu Valerio GS, màu đỏ không gắn biển số, tại phần giá để hàng phía trước của xe có 01 túi nilon màu đen có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, mở túi nilon màu đen để trên xe của T ra, phát hiện bên trong có 01 thùng bìa cát tông màu nâu có kích thước (30 x 53 x 27)cm, bên trong có 12 hình hộp đều có đặc điểm: Mỗi hộp có kích thước (29 x 8,5 x 12,5)cm, màu đỏ, bên ngoài hộp có in chữ nước ngoài; tiến hành mở kiểm tra 12 hộp trên thì phát hiện bên trong mỗi hộp nhỏ này có 18 vật có hình dạng tương tự với loại bóng đèn tròn sợi đốt, phần thân vật này bọc bằng nhựa, đầu vật này có 01 dây dẫn màu xanh thò ra bên ngoài; tổng cộng có 216 vật có hình dáng như mô tả nêu trên. Tô Viết T khai nhận toàn bộ 216 vật có hình dạng như bóng đèn nêu trên là pháo nổ (pháo hoa nổ, loại pháo trứng) do T mang đi để bán cho 01 người không quen biết tự giới thiệu tên T3, hẹn nhau giao pháo tại ven đường Q thuộc thôn P, xã B nhưng T chưa giao được pháo cho T3 thì bị cơ quan Công an đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Tô Viết T có hành vi buôn bán hàng cấm (pháo nổ).

Vật chứng thu giữ, tạm giữ (được niêm phong theo quy định pháp luật):

- 01 chiếc xe máy điện, nhãn hiệu Valerio GS, màu đỏ không gắn biển số, có số máy: CVE5E3AN16GG12962, số khung: RP4YEEKTZP8X00293 xe cũ và đã qua sử dụng.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy S9+, màu đen, có số Imei: 353512090965549, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0367239555. Điện thoại cũ và đã qua sử dụng.

- 01 chiếc túi nilon màu đen; 12 vỏ hộp bìa cát tông đều có đặc điểm: màu đỏ, có in chữ nước ngoài trên vỏ, kích thước (29 x 8,5 x 12,5)cm; 01 thùng bìa cát tông màu nâu có kích thước (30 x 53 x 27)cm;

- 216 vật có hình dạng tương tự với loại bóng đèn tròn sợi đốt, phần thân vật này bọc bằng nhựa, đầu vật này có 01 dây dẫn màu xanh thò ra bên ngoài. Qua cân sơ bộ có khối lượng 08kg, ký hiệu A1

Ngày 10/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 818 và tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Tô Viết T tại thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì.

Ngày 10/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 2565 gửi Phòng K- Công an tỉnh V đề nghị giám định pháo nổ đối với 216 vật giống hình bóng đèn sợi đốt, phần thân bọc bằng nhựa, đầu vật này có 01 dây dẫn màu xanh thò ra bên ngoài bị thu giữ nêu trên có phải là pháo không? Nếu là pháo thì là loại pháo gì? Khối lượng của mẫu vật gửi giám định là bao nhiêu

Ngày 16/12/2024, Phòng K- Công an tỉnh V có bản Kết luận giám định số 3480/KLGĐ, kết luận: 216 (hai trăm mười sáu) vật giống hình bóng đèn sợi đốt của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (pháo hoa nổ), có tổng khối lượng là 8,171kg (T4 phảy một bảy một kilôgam, không kể hộp giấy catton niêm phong);

Phòng K - Công an tỉnh V đã hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu, gồm: A1 = 6,198 kg mẫu được niêm phong kín, trên tem niêm phong có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng K- Công an tỉnh V.

Ngày 18/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 2687 trưng cầu Phòng K- Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số và điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy S9+, màu đen, có số Imei: 353512090965549, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0367239555, mật khẩu mở khóa màn hình vẽ theo hình số 1256 là điện thoại của Tô Viết T sử dụng để liên lạc mua bán pháo hoa nổ vào các ngày 09/12/2024, 10/12/2024 với yêu cầu giám định: Trích xuất, in ra bản ảnh toàn bộ dữ liệu cuộc gọi đến, cuộc gọi đi, cuộc gọi nhỡ của thẻ sim mang số thuê bao 0367239555 đang lắp trong máy; tin nhắn Messenger của tài khoản đang đăng nhập trên mẫu gửi giám định vào các ngày 09/12/2024 và ngày 10/12/2024.

Ngày 06/01/2025, Phòng K- Công an tỉnh V có bản Kết luận giám định số 77/KL-KTHS, kết luận: Trích xuất được nhật ký 10 cuộc gọi trong ngày 10/12/2024 từ mẫu cần giám định, không tìm thấy dữ liệu tin nhắn ứng dụng Messenger, dữ liệu nhật ký cuộc gọi được in thành văn bản; Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) Phụ lục có chữ ký của giám định viên và dấu của phòng K Công an tỉnh V.

Qua nghiên cứu phụ lục gửi kèm theo kết luận giám định trên, xác định: Số điện thoại 0374.628.259 của người mua pháo và số điện thoại 0367.239.555 do T sử dụng phát sinh 10 cuộc gọi đi và đến từ hồi 09 giờ 15 phút 25 giây sáng đến 07 giờ 04 phút 55 giây tối ngày 10/12/2024; kết luận giám định nêu trên phù hợp với kết quả kiểm tra điện thoại di động của T do CQĐT lập hồi 02 giờ 10 phút ngày 11/12/2024.

Cơ quan điều tra đã thông báo nội dung các kết luận giám định trên cho bị can Tô Viết T biết thì bị can T đồng ý và không có ý kiến, thắc mắc gì.

Ngày 13/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Yêu cầu số 5397 yêu cầu Cục B - Bộ Q cung cấp thông tin về chủ thuê bao, cuộc gọi đến, cuộc gọi đi, thời gian cột sóng vào ngày 10/12/2024 của 02 số điện thoại gồm: 0367239555 do T sử dụng và số thuê bao 0374628259 của người mà T khai là đối tượng mua pháo hoa nổ của T như nêu trên.

Ngày 13/02/2025, Cục B - Bộ Q có công văn phúc đáp nội dung trên, cung cấp: Chủ thuê bao của số điện thoại 0367.239.555 là Bùi Tiến L- sinh ngày 01/01/1967, trú tại huyện L, tỉnh Phú Thọ, có số CMND: 130817437; chủ thuê bao của số điện thoại 0374.628.259 là Dương Hoàng C- sinh ngày 01/01/1969, trú tại: H, xã N, huyện T, tỉnh Long An, có số CMND: 300670081. Trong báo cáo chi tiết lịch sử liên lạc vào ngày 10/12/2024 xác định 02 số thuê bao trên đã phát sinh các cuộc gọi đi và đến với nhau. Qua nghiên cứu lịch sử các cuộc gọi nêu trên thấy phù hợp với lời khai của bị can, phù hợp với kết quả kiểm tra điện thoại của T và kết luận giám định số 77 ngày 06/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự như nêu trên.

* Về các tình tiết, đối tượng liên quan:

Về nguồn gốc số pháo nổ (pháo hoa nổ) bị thu giữ, Tô Viết T khai nhận: Do không có công việc làm ổn định, cần tiền chi tiêu cá nhân nên T đã sử dụng tài khoản Facebook của mình có tên “Tùng Dương” để tìm hiểu và gọi liên hệ với 01 tài khoản Facebook của người nam giới lạ mặt đặt mua pháo hoa nổ (loại pháo trứng) do người này đăng bán vào ngày 09/12/2024, sau đó T sẽ bán cho người khác để kiếm lời từ việc chênh lệch giá (T không nhớ thông tin tài khoản đã đăng bài viết này, cũng không quen biết người này). Quá trình trao đổi, T đặt mua của người này 01 thùng pháo trứng gồm 12 hộp bên trong mỗi hộp có 18 quả pháo trứng thì người này báo giá bán là 9.600.000đ/01 thùng, T đồng ý và cả 02 hẹn nhau sẽ giao nhận pháo, tiền thông qua xe ô tô khách. Cùng ngày, T đã nhận được 01 thùng pháo trứng với số lượng pháo nêu trên từ phụ xe của xe ô tô khách chạy qua tuyến đường Quốc lộ 2C gần nhà T và đã thanh toán số tiền 9.600.000đ bằng tiền mặt cho người phụ xe này (T không nhớ rõ đặc điểm chiếc xe ô tô khách và đặc điểm người phụ xe nêu trên) rồi T mang số pháo trên cất giấu tại vườn nhà ở thôn B, xã Đ, huyện Y. Sáng ngày 10/12/2024, có 01 người nam giới tên T3 sử dụng số điện thoại 0374.628.259 gọi điện đến số điện thoại của T là 0367.239.555 bảo T có pháo nổ (loại pháo trứng) thì bán cho T3 12 hộp loại 18 quả/01 hộp, tổng là 216 quả pháo trứng, T bảo T3 giá bán là 1.000.000đ/01 hộp pháo gồm 18 quả pháo nêu trên thì T3 đồng ý. Sau đó, T và T3 hẹn nhau khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày sẽ gặp nhau để giao nhận pháo và tiền tại đoạn đường Q thuộc thôn P, xã B, huyện V. Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, T điều khiển xe máy điện của T nhãn hiệu Valerio GS, màu đỏ không gắn biển số đi từ nhà T chở 01 thùng cát tông (bên ngoài thùng được bọc túi nilon màu đen) bên trong có 12 hộp cát tông nhỏ màu đỏ, mỗi hộp có 18 quả pháo trứng đang đứng đợi T3 đến lấy tại đoạn đường Q thuộc thôn P, xã B, huyện V thì bị lực lượng Công an huyện V đến kiểm tra phát hiện, bắt quả tang T về hành vi Buôn bán hàng cấm là 216 quả pháo nổ và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Quá trình điều tra xác định, T không quen biết người đã bán pháo cho T, T liên hệ mua pháo hoa nổ thông qua tài khoản Messenger, sau khi mua pháo xong T đã xóa bỏ ứng dụng Messenger trên điện thoại của mình để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, T không nhớ thông tin về tài khoản Messenger của người nam giới bán pháo cho T. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được nhân thân, lai lịch sẽ xử lý theo quy định.

Đối với người liên lạc mua pháo của T qua số điện thoại 0374628259, quá trình xác minh xác định chủ thuê bao là ông Dương Hoàng C- sinh ngày 01/01/1969, trú tại: H, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với ông C xác định bản thân ông không làm thủ tục đăng ký và không sử dụng số thuê bao này, hoàn toàn không biết, không liên quan gì đến hành vi phạm tội Buôn bán hàng cấm của T. Do vậy, cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với ông Dương Hoàng Côn .

Đối với ông Bùi Tiến L- sinh ngày 01/01/1967, trú tại huyện L, tỉnh Phú Thọ là người đứng tên chủ thuê bao của số điện thoại 0367.239.555 do T sử dụng để liên lạc mua bán pháo. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với ông Bùi Tiến L xác định trước đây ông L có làm thủ tục đăng ký và sử dụng số thuê bao này nhưng khoảng từ năm 2019 ông đã bán cho một người không quen biết và không sử dụng số điện thoại này từ đó. Ông không quen biết Tô Viết T và hoàn toàn không biết, không liên quan gì đến hành vi phạm tội Buôn bán hàng cấm của T. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý gì đối với ông L.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với mẫu do Phòng K- Công an tỉnh V hoàn trả sau giám định, xác định đều là pháo hoa nổ (gồm: A1 = 6,198kg được niêm phong theo quy định pháp luật) là hàng cấm nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy S9+, màu xanh - đen, có số Imei: 353512090965549 và 01 chiếc xe máy điện, nhãn hiệu Valerio GS, màu đỏ không gắn biển số, có số máy: CVE5E3AN16GG12962, số khung: RP4YEEKTZP8X00293. Quá trình điều tra xác định, đây đều là tài sản của T, T đã sử dụng chiếc điện thoại và chiếc xe máy điện trên vào việc liên hệ và đi mua, bán pháo hoa nổ trong ngày 09/12/2024 và 10/12/2024, là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, hiện còn giá trị nên cần tịch thu, bán phát mại sung Ngân sách nhà nước.

- Đối với thẻ sim mang số thuê bao 0367239555 lắp bên trong điện thoại thu giữ của Tô Viết T, 01 chiếc túi nilon màu đen; 12 vỏ hộp bìa cát tông đều có đặc điểm: màu đỏ, có in chữ nước ngoài trên vỏ, kích thước (29 x 8,5 x 12,5)cm và 01 thùng bìa cát tông màu nâu có kích thước (30 x 53 x 27)cm thu giữ trong quá trình bắt quả. Quá trình điều tra xác định, 01 chiếc túi nilon, 12 vỏ hộp bìa cát tông và 01 thùng bìa cát tông trên đều là vật chứng của vụ án, hiện không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Tại bản cáo trạng số: 25/CT-VKSVT ngày 06 tháng 03 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường truy tố Tô Viết T về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Tô Viết T phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 bộ luật hình sự.

Xử phạt: Tô Viết T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau: 1. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Tô Viết T khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thừa nhận đã mua, sau đó bán số lượng pháo hoa nổ có khối lượng 8,171 kg (gồm 216 quả) cho một người đàn ông không quen biết, bị phát hiện và bắt quả tang vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 10 tháng 12 năm 2024 như nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng và không có lời bào chữa nào khác

L1 nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của chính bị cáo, người làm chứng, tang vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: bị cáo Tô Viết T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự, điều luật quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, …, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

.....................

c) …, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”.

3. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy, phải đưa ra xử lý trước pháp luật, áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe phòng ngừa chung.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử đã cân nhắc, xem xét đến tính chất cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người tích cực tham gia các phong trào từ thiện, ủng hộ các quỹ xóa đói giảm nghèo, khuyến học; có ông ngoại là người có công, là liệt sỹ trong kháng chiến chống Mỹ. Nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, phải lao động để nuôi 03 con nhỏ, hoàn cảnh kinh tế khó khăn; là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; nên chỉ cần phạt một mức án tù nhất định, cho hưởng án treo cũng đủ để cải tạo giáo dục bị cáo.

Tại khoản 4 Điều 190 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng ....”. Tuy nhiên, bị cáo T là lao động chính nuôi 03 con nhỏ, bố đẻ bị ốm nặng; có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Quá trình điều tra xác định, T không quen biết người đã bán pháo cho T, T liên hệ mua pháo hoa nổ thông qua tài khoản Messenger, sau khi mua pháo xong T đã xóa bỏ ứng dụng Messenger trên điện thoại của mình để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, T không nhớ thông tin về tài khoản Messenger của người nam giới bán pháo cho T. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được nhân thân, lai lịch sẽ xử lý theo quy định.

Đối với người liên lạc mua pháo của T qua số điện thoại 0374628259, quá trình xác minh xác định chủ thuê bao là ông Dương Hoàng Côn T5 tại: H, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với ông C xác định bản thân ông không làm thủ tục đăng ký và không sử dụng số thuê bao này, hoàn toàn không biết, không liên quan gì đến hành vi phạm tội Buôn bán hàng cấm của T. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an huyện V không đề cập xử lý đối với ông Dương Hoàng C là phù hợp, đồng thời phải tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định.

Đối với ông Bùi Tiến L- sinh ngày 01/01/1967, trú tại huyện L, tỉnh Phú Thọ là người đứng tên chủ thuê bao của số điện thoại 0367.239.555 do T sử dụng để liên lạc mua bán pháo. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với ông Bùi Tiến L xác định trước đây ông L có làm thủ tục đăng ký và sử dụng số thuê bao này nhưng khoảng từ năm 2019 ông đã bán cho một người không quen biết và không sử dụng số điện thoại này từ đó. Ông không quen biết T và hoàn toàn không biết, không liên quan gì đến hành vi phạm tội Buôn bán hàng cấm của T. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý gì đối với ông L là có phù hợp.

5. Về xử lý vật chứng:

- Đối với mẫu do Phòng K- Công an tỉnh V hoàn trả sau giám định, xác định đều là pháo hoa nổ (gồm: A1 = 6,198kg được niêm phong theo quy định pháp luật) là hàng cấm nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy S9+, màu xanh - đen, có số Imei: 353512090965549 và 01 chiếc xe máy điện, nhãn hiệu Valerio GS, màu đỏ không gắn biển số, có số máy: CVE5E3AN16GG12962, số khung: RP4YEEKTZP8X00293. Quá trình điều tra xác định, đây đều là tài sản của T, T đã sử dụng chiếc điện thoại và chiếc xe máy điện trên vào việc liên hệ và đi mua, bán pháo hoa nổ trong ngày 09/12/2024 và 10/12/2024, là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, hiện còn giá trị nên cần tịch thu, bán phát mại sung Ngân sách nhà nước.

- Đối với thẻ sim mang số thuê bao 0367239555 lắp bên trong điện thoại thu giữ của Tô Viết T, 01 chiếc túi nilon màu đen; 12 vỏ hộp bìa cát tông đều có đặc điểm: màu đỏ, có in chữ nước ngoài trên vỏ, kích thước (29 x 8,5 x 12,5) cm và 01 thùng bìa cát tông màu nâu có kích thước (30 x 53 x 27) cm thu giữ trong quá trình bắt quả. Quá trình điều tra xác định, 01 chiếc túi nilon, 12 vỏ hộp bìa cát tông và 01 thùng bìa cát tông trên đều là vật chứng của vụ án, hiện không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

6. Về án phí: Bị cáo Tô Viết T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Tô Viết T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”

2. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, 2 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

3. Xử phạt: Tô Viết T 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Tô Viết T cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87, Điều 93 Luật thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp bị cáo có thay đổi về nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

4. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy mẫu giám định gồm: A1 = 6,198kg, đã được niêm phong; 01 chiếc túi nilon màu đen; 12 vỏ hộp bìa cát tông đều có đặc điểm: màu đỏ, có in chữ nước ngoài trên vỏ, kích thước (29 x 8,5 x 12,5)cm và 01 thùng bìa cát tông màu nâu có kích thước (30 x 53 x 27)cm và 01 thẻ sim điện thoại.

- Tịch thu bán phát mại, sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy S9+, màu đen, có số Imei: 353512090965549; 01 chiếc xe máy điện, nhãn hiệu Valerio GS, màu đỏ không gắn biển số, có số máy: CVE5E3AN16GG12962, số khung: RP4YEEKTZP8X00293.

(có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữ cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường)

5. Án phí: Tô Viết T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ