- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự phúc thẩm xử phạt bị cáo Phan Thị Mai H và đồng phạm về tội "Tổ chức đánh bạc" - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 3…"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào Điều 343; điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 37/2025/HS-PT Ngày: 28/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Khoa
Các Thẩm phán:
Bà Bùi Thị Bích Liễu
Bà Lê Thị Hạng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Trương Ngọc Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 182/2024/TLPT ngày 12/11/2024, đối với các bị cáo Phan Thị Mai H, Phan Quốc Q, Huỳnh Thị Trúc Th, Mai Thị Thanh X do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 175/2024/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Họ tên: Phan Thị Mai H; sinh ngày: 11/10/1983, tại tỉnh Khánh Hòa. Nơi cư trú: Số 34 đường N, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Phòng số 2K Chung cư CT5 V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tấn M, sinh năm: 1955 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm: 1956; có chồng là ông Nguyễn Ngọc D, sinh năm: 1970 và 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2021 đến ngày 08/12/2021 và được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh, bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/12/2021 cho đến nay; Có mặt.
2. Họ tên: Phan Quốc Q; sinh ngày: 12/02/1990, tại tỉnh Khánh Hòa. Nơi cư trú: Thôn Đ1, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tấn M, sinh năm: 1955 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm: 1956; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2010/HSST ngày 02/6/2010 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt ngày 26/6/2011, đã thi hành phần án phí; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2021 đến ngày 08/12/2021 và được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh, bị cấm bảo lĩnh, bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/12/2021 cho đến nay; Có mặt.
3. Họ tên: Huỳnh Thị Trúc Th; sinh ngày: 30/01/1976 tại tỉnh Khánh Hòa. Nơi cư trú: Số 74 đường T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Số 51 G, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Công D, sinh năm: 1949 và bà Phạm M, sinh năm: 1956; có chồng là ông Trương Văn T, sinh năm: 1975 và có 02 con (Lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2021 đến ngày 08/12/2021 và được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh, bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/12/2021 cho đến nay; Có mặt.
4. Họ tên: Mai Thị Thanh X; sinh ngày: 18/02/1984 tại tỉnh Khánh Hòa. Nơi cư trú: Số 11A đường Đ, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn C, sinh năm: 1949 và bà Phạm M, sinh năm: 1956; có chồng là ông Nguyễn Đức C, sinh năm: 1977 (đã ly hôn); có 02 con (Lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2010); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2021 đến ngày 10/11/2021 và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/11/2021 cho đến nay; Có mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc liên quan đến kháng cáo, kháng nghị:
Người bào chữa của bị cáo Phan Thị Mai H: Luật sư Đỗ Thị Ngọc M - Luật sư Văn phòng luật sư N, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa; địa chỉ: Số 45C đường Q, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 5 năm 2020 đến ngày 31 tháng 10 năm 2021, Phan Thị Mai H tổ chức đánh bạc trái phép để hưởng lợi với hình thức là “chủ cái lô đề” tổ chức cho nhiều người chơi “đánh số lô đề” (con bạc) thắng thua bằng tiền dựa trên kết quả giải thưởng của xổ sổ kiến thiết: Miền Bắc, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Gia Lai, Đăk Lăk, Khánh Hòa, Phú Yên. H quy định cách thức đặt cược, tỷ lệ thắng thua như sau:
Đối với số lô đề loại 02 số (2 chân) thì tỷ lệ thắng thua là 01/70; đối với số lô đề loại 03 số (3 chân) thì tỷ lệ thắng thua là 01/600; “đá 3” (trúng 03 cặp số bất kỳ ở tất cả các giải) thì tỷ lệ thắng thua là 01/3000; “đá 2” (trúng 02 cặp số bất kỳ ở tất cả các giải) thì tỷ lệ thắng thua là 01/600. Con bạc có thể chọn mua một hoặc nhiều hai con số, ba con số, hai cặp số, ba cặp số bất kỳ và giá trị mỗi con số mua bao nhiêu là tùy thuộc vào người chơi. Việc đối chiếu và thanh toán trúng thưởng là đối chiếu với hai số cuối hoặc ba số cuối bất kỳ ở các giải trong ngày để đối chiếu với các con số mà con bạc lựa chọn nếu trùng khớp thì con bạc thắng (trúng lô đề).
Để tổ chức đánh bạc, H rủ, thỏa thuận với hai chị em cùng mẹ khác cha là Mai Thị Thanh X, Huỳnh Thị Trúc Th, Nguyễn Minh Giao C cùng một số người khác (chưa rõ lai lịch) tham gia cùng H tổ chức đánh bạc. H giao cho X, Th cùng một số người khác làm “đại lý ghi lô đề”. Hàng ngày, X, Th ở tại các địa điểm trước số 69/3 đường T và số 74 đường T, phường P, thành phố N ghi số lô đề, thu tiền và ghi “phơi đề” giao cho con bạc. Đến khoảng 17 giờ, X, Th có nhiệm vụ tổng hợp “phơi” ghi lại nội dung “đánh lô đề” của các con bạc vào giấy (tịch đề) rồi dùng điện thoại chụp ảnh gửi qua tin nhắn ứng dụng zalo, viber cho H. Sau đó đưa tiền đã thu của con bạc cho H. Khi con bạc trúng lô đề thì X, Th thông báo cho H biết rồi H chuyển tiền thắng cho X, Th để trả cho con bạc. Hàng ngày, X, Th được H trả “hoa hồng” với tỷ lệ 7%/tổng số tiền thu được của con bạc. Ngoài ra, H còn thuê và trả công với số tiền 3.000.000 đồng/01 tháng cho em ruột Phan Quốc Q để theo dõi các “tịch đề” do X, Th và các “đại lý ghi lô đề” chuyển đến hàng ngày; ghi chép, đối chiếu với kết quả giải thưởng của xổ số kiến thiết để tính toán tiền thắng thua trong việc tổ chức đánh bạc trong ngày rồi ghi lại vào giấy (tịch đề) và lưu giữ để đối chiếu thu, trả tiền thắng thua cho X, Th và các đại lý ghi lô đề.
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 31/10/2021, khi Mai Thị Thanh X đang tổ chức đánh bạc ghi số lô đề cho Lê Văn B với số tiền 800.000 đồng tại trước nhà số 69/3 đường T, phường P, thành phố N thì bị tổ công tác của Phòng cảnh sát hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa phối hợp với Công an thành phố Nha Trang phát hiện và bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ của X 09 tờ phơi đề, số tiền 6.210.000 đồng cùng các đồ vật, tài liệu có liên quan khác. Tại các phơi đề của X đang lưu giữ, xác định: Ngày 31/10/2021, X đã ghi lô đề cho 16 con bạc với tổng số tiền 8.656.000 đồng, kết quả thắng thua dựa trên kết quả sổ xố của Công ty xổ số kiến thiết Khánh Hòa, chưa có kết quả thắng thua thì bị tổ công tác phát hiện, bắt giữ như trên.
Đến 16 giờ 40 phút cùng ngày, khi Th đang tổ chức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề thắng thua bằng tiền tại nhà số 74 đường T, phường P, thành phố N thì bị tổ công tác phát hiện và bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ của Th 05 tịch đề, 31 phơi đề của ngày 31/10/2021; 174 tờ tịch đề và 1216 tờ phơi đề ghi từ ngày 05/10/2021 đến 30/10/2021; số tiền 26.510.000 đồng cùng các đồ vật, tài liệu có liên quan khác. Tại các phơi đề, tịch đề của Th đang lưu giữ, xác định: Ngày 31/10/2021, Th đã ghi lô đề cho 122 con bạc với tổng số tiền 57.237.700 đồng, kết quả thắng thua dựa trên kết quả xổ số của Công ty xổ số kiến thiết Khánh Hòa, chưa có kết quả thắng thua thì bị Tổ công tác phát hiện, bắt giữ như trên.
Cùng thời điểm như trên, tổ công tác đến nơi tổ chức đánh bạc tại địa chỉ số 34 đường N, phường P, thành phố N và phát hiện Phan Thị Mai H và Phan Quốc Q đang thống kê các tịch đề. Khi nhìn thấy lực lượng công an, H và Q chốt cửa và tiêu hủy các tịch đề bằng cách bỏ toàn bộ số tịch đề vào máy giặt. Tại thời điểm bị bắt quả tang, tổ công tác phát hiện và thu giữ trong lồng máy giặt được 02 bao tải giấy đã ghi tịch đề đã ướt, nát; đồng thời thu giữ được tiền và các đồ vật, tài liệu có liên quan khác của H, Q.
Tại Cơ quan điều tra, Phan Thị Mai H, Phan Quốc Q, Mai Thị Thanh X, Huỳnh Thị Trúc Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Quá trình điều tra, xác định: Từ ngày 05/10/2021 đến ngày 30/10/2021, trên tổng số 174 tịch đề và 1216 tờ phơi, Huỳnh Thị Trúc Th đã ghi 4.302 lượt đề cho người khác với tổng số tiền 1.496.296.000 đồng, được Phan Thị Mai H trả hoa hồng với tổng số tiền 66.813.000 đồng; số tiền các con bạc thắng mà H phải chi trả là 1.798.144.000 đồng nên H không thu được lợi trong số tiền đánh bạc tại điểm của Th; đối với số tiền ghi đề trong ngày 31/10/2021, tiền hoa hồng Th được hưởng là 4.060.600 đồng. Đối với các tập tịch đề thu giữ tại nhà của H, xác định từ ngày 01/8/2020 đến ngày 31/10/2020, tổng số tiền đánh bạc mà các “đại lý” của H ghi được là 30.346.255.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.008.834.000 đồng; đối với các tịch đề còn lại đều bị ướt, nát nên không xác định được số tiền đánh bạc, số tiền thu lợi bất chính từ tháng 11 năm 2020 cho đến thời điểm bị Tổ công tác phát hiện. Trước khi bị Tổ công tác phát hiện, Mai Thị Thanh X không lưu trữ tịch đề và số tịch đề thu giữ tại nhà của Phan Thị Mai H không xác định được tịch đề nào do X ghi nên không có cơ sở để xác định số tiền hoa hồng mà X được hưởng từ H.
Ngoài ra, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 31/10/2021, tại khu vực đường Phong Châu, xã V, thành phố N, tổ công tác phát hiện Nguyễn Minh Giao C đang nhận thông tin người ghi đề từ Võ Xuân H và Đặng Lan H để chuyển cho Phan Thị Mai H với tổng số tiền 1.090.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số 175/2024/HSST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang quyết định:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phan Thị Mai H.
Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Mai H 06 (Sáu) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian đã bị bắt tạm giữ, tạm giam (Từ ngày 01/11/2021 đến ngày 08/12/2021).
2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phan Quốc Q.
Xử phạt: Bị cáo Phan Quốc Q 05 (Năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian đã bị bắt tạm giữ, tạm giam (Từ ngày 01/11/2021 đến ngày 08/12/2021).
3. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Huỳnh Thị Trúc Th.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Trúc Th 05 (Năm) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian đã bị bắt tạm giữ, tạm giam (Từ ngày 01/11/2021 đến ngày 08/12/2021).
4. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Mai Thị Thanh X.
Xử phạt: Bị cáo Mai Thị Thanh X 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ (Từ ngày 01/11/2021 đến ngày 10/11/2021).
5. Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015.
5.1. Đối với bị cáo Phan Thị Mai H:
- Buộc bị cáo H nộp vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền tổ chức cho người khác đánh bạc dưới hình thức ghi lô đề, tính từ ngày 01/8/2020 đến ngày 31/10/2020 là 30.346.255.000 đồng (Ba mươi tỷ ba trăm bốn mươi sáu triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn đồng); Từ ngày 05/10/2021 đến ngày 31/10/2021 là 1.496.296.000 đồng (Một tỷ bốn trăm chín mươi sáu triệu hai trăm chín mươi sáu ngàn đồng).
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tổng số tiền thu lợi bất chính của bị cáo H từ ngày 01/8/2020 đến ngày 31/10/2020 là 2.008.834.000 đồng (Hai tỷ không trăm lẻ tám triệu tám trăm ba mươi tư ngàn đồng).
5.2. Đối với bị cáo Huỳnh Thị Trúc Th:
- Buộc bị cáo Th nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền tổ chức cho người khác đánh bạc dưới hình thức ghi lô đề trong ngày 31/10/2021 là 57.237.700 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi bảy ngàn bảy trăm đồng).
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tổng số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th ngày 05/10/2021 đến ngày 30/10/2021 là 70.873.000 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm bảy mươi ba ngàn đồng); Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th vào ngày 31/10/2021 là 4.060.600 đồng (Bốn triệu không trăm sáu mươi ngàn sáu trăm đồng).
5.3. Đối với bị cáo Mai Thị Thanh X:
- Buộc bị cáo X nộp vào ngân sách Nhà nước tổ chức cho người khác đánh bạc dưới hình thức ghi lô đề trong ngày 31/10/2021 là 8.656.000 đồng (Tám triệu sáu trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tổng số tiền thu lợi bất chính của bị cáo X vào ngày 31/10/2021 là 605.000 đồng (Sáu trăm lẻ năm ngàn đồng).
5.4. Buộc bị cáo Phan Quốc Q nộp vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền thu lợi bất chính là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
5.5. Buộc Nguyễn Minh Giao C nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là 1.090.000 đồng (Một triệu không trăm lẻ chín ngàn đồng).
6. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
6.1. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- Số tiền 32.720.000 đồng (Ba mươi hai triệu bảy trăm hai mươi ngàn đồng) (Theo Giấy nộp tiền mặt số 26313747, ngày 05/8/2024 của Công an thành phố Nha Trang tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Khánh Hòa
- Phòng giao dịch Lộc Thọ).
- 02 (Hai) máy tính hiệu Casino màu nâu; 03 (Ba) máy tính cầm tay hiệu Casio; 01 (Một) máy in hiệu Canon MF3010 màu đen; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone X màu vàng nhạt (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng đề ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha Trang với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
6.2. Trả lại cho Huỳnh Thị Trúc Th: 01 (Một) thẻ ngân hàng Agribank số 9704050760450630 (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng đề ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha Trang với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
6.3. Trả lại cho Lê Văn B:
- 01 (Một) chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn B, số 225089465; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Poco (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng đề ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha Trang với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
- Số tiền 830.000 đồng (Tám trăm ba mươi ngàn đồng) (Theo Giấy nộp tiền mặt số 26313747, ngày 05/8/2024 của Công an thành phố Nha Trang tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Khánh Hòa - Phòng giao dịch Lộc Thọ).
6.4. Trả lại cho Nguyễn Minh Giao C: 02 (Hai) điện thoại di động hiệu Samsung; 01 (Một) máy tính bảng hiệu Samsung; 01 (Một) laptop hiệu Dell; 01 (Một) máy in hiệu Cannon (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chúng đề ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha Trang với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
6.5. Trả lại cho Đặng Lan H: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu xanh nhạt (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng đề ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha Trang với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
6.6. Trả lại cho Võ Xuân H: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A31 màu xanh (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng đề ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha Trang với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
6.7. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) tủ, 01 (Một) ghế nhựa (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng đề ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha Trang với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
1/ Việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ, có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội. Thể hiện:
* Nguyễn Minh Giao C là một trong những đầu mối chuyển tịch đề cho Phan Thị Mai H. Ngoài việc trực tiếp ghi số đề cho những người chơi đề, từ tháng 9/2017 đến 31/10/2021, C còn nhận tịch đề của những người ghi đề khác rồi chuyển cho H để hưởng chênh lệch hoa hồng. Hàng ngày, sau khi nhận tịch đề, C chuyển cho H qua ứng dụng Viber và thanh toán tiền thắng thua qua tài khoản ngân hàng (internet banking).
Chiều ngày 31/10/2021, trước khi bị cơ quan công an mời làm việc, C đã chuyển cho H tịch đề với số tiền 1.090.000đ. Trong khi C đang làm việc với cơ quan công an, có 02 người tiếp tục chuyển tịch đề vào số điện thoại 0896670554 của C, gồm: Đặng Lan H với số tiền 5.321.000đ, Võ Xuân H 4.182.000đ. (Lời khai của C tại các BL 539, 541, 559, 560, 561, 562, lời khai của H BL 569, 570, lời khai của H 566, 567).
Hành vi của Nguyễn Minh Giao C, Đặng Lan H có dấu hiệu phạm tội nhưng cấp sơ thẩm không xác minh, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật là bỏ lọt người phạm tội. Cần phải tiếp tục điều tra để xác định hành vi Nguyễn Minh Giao C, Đặng Lan H cấu thành về tội “Tổ chức đánh bạc” (Điều 322 BLHS) hoặc tội “Đánh bạc” (Điều 321 BLHS) và xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
* Đối với Nguyễn Ngọc D:
Phan Thị Mai H và Nguyễn Ngọc D (chồng H) khai nhận: Vợ chồng H D làm cái số đề từ 2016 đến tháng 02/2020 thì D giao lại cho H tự làm chủ cái. Phan Thị Mai H sử dụng nhiều số điện thoại để nhận tịch đề của nhiều người, trong đó có tài khoản “Dũng Nguyễn”.
Nguyễn Ngọc D khai: “Năm 2020, tôi giao tài khoản zalo của tôi là “Dũng Nguyễn” cho vợ để vợ tôi nhận tịch đề của các đại lý chuyển đến”, “tôi giao tài khoản zalo “Dũng Nguyễn” cho vợ để vợ làm cái, tôi chỉ biết lời lỗ”. Ngày 22/11/2021, khi nhận được giấy triệu tập yêu cầu đến Phòng cảnh sát hình sự làm việc, do sợ bị cơ quan Công an thu máy lấy dữ liệu ghi đề trong tài khoản zalo “Dũng Nguyễn” nên tôi đã vứt máy điện thoại. (BL 522, 523, 607).
Huỳnh Thị Trúc Th khai: Đầu năm 2021 vợ chồng D – H đến nhà đặt vấn đề với vợ chồng Th – T về việc ghi số đề và chuyển tịch cho vợ chồng D - H để được hưởng hoa hồng 07%. Từ 01/01/2021, khoảng 17h hàng ngày Th nộp tịch cho D qua ứng dụng viber (số điện thoại 0769503316). Đến 9h sáng hôm sau, chồng Th (T) trực tiếp cầm tiền khách chơi đề đến nhà D để đưa cho D hoặc H (BL 195, 196, 197, 642). Chiều 31/10/2021, Th đang tổng hợp tịch đề để chuyển cho D thì bị Công an bắt quả tang (BL 167).
Mai Thị Thanh X khai: Năm 2020, H và D gặp tôi rủ cùng tổ chức đánh bạc dưới hình thức ghi đề, thỏa thuận cho tôi hưởng hoa hồng 07%. 17h hàng ngày tôi tổng hợp số và tiền thành tịch đề rồi chuyển cho H hoặc D dưới hình thức H nhận trực tiếp hoặc chuyển qua tài khoản zalo cho anh D (0901927168). Từ 2020 đến 30/10/2021, sau khi chuyển tịch đề cho D, H và nhận tiền hoa hồng, tôi đã hủy bỏ (BL 117, 118, 123, 124).
Từ các tài liệu nêu trên thể hiện: từ đầu năm 2021 đến 31/10/2021, Nguyễn Ngọc D có hành vi cùng với Phan Thị Mai H thỏa thuận với Huỳnh Thị Trúc Th, Mai Thị Thanh X tham gia “Tổ chức đánh bạc” dưới hình thức đại lý số đề. Ngoài việc cung cấp tài khoản zalo “Dũng Nguyễn” của mình cho H để nhận tịch đề của các “đại lý”, D còn là người nhận tịch đề, nhận tiền của người đánh số đề do Th và X chuyển đến, theo dõi lời lỗ.
Do đó, cần phải điều tra để làm rõ vai trò đồng phạm của Nguyễn Ngọc D để xử lý theo quy định của pháp luật.
* Đối với Trương Văn T (chồng của Huỳnh Thị Trúc Th):
Bị cáo Th khai: “Đầu năm 2021, vợ chồng D H đến nhà đặt vấn đề với vợ chồng tôi về việc ghi số đề và chuyển tịch cho vợ chồng D, H”. 17h hàng ngày, tôi chuyển tịch đề qua viber cho anh D. 9h sáng hôm sau tôi hoặc chồng tôi sẽ trực tiếp cầm tiền khách đánh đề lên nhà anh D để đưa cho anh D, chị H (BL 195, 196, 197).
Hành vi của Trương Văn T có dấu hiệu đồng phạm với Huỳnh Thị Trúc Th về tội “Tổ chức đánh bạc”, nhưng cấp sơ thẩm không xác minh, điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật.
2/ Về xử lý vật chứng:
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 31/10/2021, Công an tỉnh Khánh Hòa đã tạm giữ của Phan Thị Mai H 01 ĐTDĐ Iphone 13 Pro max lắp sim số 0933607168; tạm giữ của Huỳnh Thị Trúc Th 01 ĐTDĐ Iphone 12 Pro max gắn sim số 0935177285, 01 ĐTDĐ Iphone Xs max gắn sim số 0935 775 787; tạm giữ của Phan Quốc Q 01 ĐTDĐ Iphone 7 gắn sim số 0706 012 776. Theo tài liệu điều tra thể hiện đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa đã trả số vật chứng này cho các bị cáo Phan Thị Mai H, Huỳnh Thị Trúc Th là vi phạm Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
3/ Về áp dụng biện pháp tư pháp:
Án sơ thẩm tuyên:
- Buộc bị cáo Th nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền tổ chức cho người khác đánh bạc dưới hình thức ghi lô đề trong ngày 31/10/2021 là 57.237.700 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi bảy ngàn bảy trăm đồng).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tổng số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th từ ngày 05/10/2021 đến ngày 30/10/2021 là 70.873.000 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm bảy mươi ba ngàn đồng); Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th vào ngày 31/10/2021 là 4.060.600 đồng (Bốn triệu không trăm sáu mươi ngàn sáu trăm đồng).
- Buộc bị cáo X nộp vào ngân sách Nhà nước tổ chức cho người khác đánh bạc dưới hình thức ghi lô đề trong ngày 31/10/2021 là 8.656.000 đồng (Tám triệu sáu trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).
Theo tài liệu có tại hồ sơ vụ án thể hiện:
Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th từ ngày 05/10/2021 đến ngày 30/10/2021 là 66.813.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Thi vào ngày 31/10/2021 là 4.060.600 đồng. Tổng cộng số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th từ 05/10/2021 đến 31/10/2021 là 70.873.600 đồng.
Nhưng án sơ thẩm tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước tổng số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th từ ngày 05/10/2021 đến ngày 30/10/2021 là 70.873.000 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm bảy mươi ba ngàn đồng); Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th vào ngày 31/10/2021 là 4.060.600 đồng là có sự trùng lắp.
Về số tiền dùng đánh bạc ngày 31/10/2021, án sơ thẩm tuyên buộc các bị cáo nộp ngân sách Nhà nước gồm: bị cáo Th phải nộp 57.237.700 đồng; Bị cáo X phải nộp 8.656.000 đồng, mà không trừ số tiền đã tạm giữ của các bị cáo theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 31/10/2021 là chưa phù hợp.
Xét thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ, có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội; Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về việc xử lý vật chứng; Bản án sơ thẩm có sự sai sót trong việc áp dụng biện pháp tư pháp. Do đó cần phải hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án đúng pháp luật.
Vì những lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a, c khoản 1 Điều 358 BLTTHS tuyên hủy Bản án sơ thẩm hình sự số 175/2024/HSST ngày 05/8/2024 của TAND TP. Nha Trang để điều tra lại.
- Luật sư M bào chữa cho bị cáo Phan Thị Mai H: Không có ý kiến về tội danh. Trong hồ sơ vụ án tại biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét chỗ ở ghi không đúng thời gian. Quyết định khởi tố ghi ngày 07/10/2021 (BL 337-340) nhưng quyết định phê chuẩn ghi ngày 08/11/2021, từ đó Viện kiểm sát thành phố Nha Trang căn cứ các quyết định này để ban hành cáo trạng truy tố các bị cáo là chưa đảm bảo. Tôi đồng ý với quan điểm đại diện Viện Kiểm sát hủy án, để điều tra, xét xử lại.
- Các bị cáo Phan Quốc Q, Huỳnh Thị Trúc Th, Mai Thị Thanh X đồng ý hủy bản án, không tranh luận thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Bị cáo kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên kháng cáo của bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét.
Xét kháng cáo của bị cáo:
Về tội danh:
Từ tháng 5/2020 đến ngày 31/10/2021, trên địa bàn thành phố N, H đã tổ chức đánh bạc trái phép để hưởng lợi với hình thức là “chủ cái lô đề” cho nhiều đầu mối đề. H bàn bạc và thống nhất để Huỳnh Thị Trúc Th, Mai Thị Thanh X, Nguyễn Minh Giao C... làm “đại lý ghi lô đề”; đồng thời, thuê Phan Quốc Q để phụ giúp trong việc tổng hợp các tịch đề từ đầu mối, tính tiền thắng thua trong việc tổ chức đánh bạc, H trả tiền công hàng tháng cho Q với số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Vào ngày 31/10/2021, tổ công tác của Phòng Cảnh sát hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa phối hợp với Công an phường Phước Hòa phát hiện và bắt quả tang đại lý ghi đề của Huỳnh Thị Trúc Th tố chức đánh bạc trái phép, thắng thua bằng tiền dưới hình thức ghi lô đề cho 122 người khác với tổng số tiền 57.237.700 đồng; đại lý ghi đề của Mai Thị Thanh X tổ chức đánh bạc trái phép, thắng thua bằng tiền dưới hình thức ghi lô đề cho 16 người khác, với tổng số tiền 8.656.000 đồng, và tại khu vực đường Phong Châu, xã V, thành phố N, tổ công tác còn phát hiện Nguyễn Minh Giao C đang chuyển tịch đề cho Phan Thị Mai H với tổng số tiền 1.090.000 đồng.
Tổng số tiền mà Phan Thị Mai H tổ chức cho người khác tham đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi lô đề trên địa bàn thành phố Nha Trang trong ngày 31/10/2021 là 66.983.700 đồng; từ ngày 01/8/2020 đến ngày 31/10/2020 là 30.346.255.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.008.834.000 đồng; từ ngày 05/10/2021 đến ngày 30/10/2021 là 1.496.296.000 đồng, số tiền H phải chi trả cho các con bạc thắng là 1.798.144.000 đồng, nên không thu lợi được khoản tiền nào. Như vậy, hành vi của Phan Thị Mai H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo Mai Thị Thanh X khai nhận: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 31/10/2021, tại trước nhà có địa chỉ số 69/3 đường T, phường P, thành phố N, X bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang khi đang ghi lô đề trái phép cho Lê Văn B với số tiền 800.000 đồng; trong ngày 31/10/2021, X đã tổ chức đánh bạc trái phép, thắng thua bằng tiền dưới hình thức ghi lô đề cho 16 người khác, với tổng số tiền 8.656.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 605.000 đồng. Hành vi của Mai Thị Thanh X đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo Huỳnh Thị Trúc Th khai nhận: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 31/10/2021, tại nhà số 74 đường T, phường P, thành phố N, Th đang tổng hợp các tịch đề ghi cho khách trong ngày 31/10/2021 để chuyển cho Phan Thị Mai H, thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang. Trong ngày 31/10/2021, Th đã tổ chức đánh bạc trái phép, thắng thua bằng tiền dưới hình thức ghi lô đề cho 122 người khác với tổng số tiền 57.237.700 đồng, thu lợi bất chính số tiền 4.060.600 đồng. Ngoài ra, từ ngày 05/10/2021 đến ngày 30/10/2021, Th đã ghi 4.302 lượt đề cho người khác với tổng số tiền 1.553.533.700 đồng, hưởng lợi bất chính với tổng số tiền 70.873.600 đồng. Như vậy, hành vi của Huỳnh Thị Trúc Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo Phan Quốc Q khai nhận: Q được Phan Thị Mai H thuê, trả tiền công mỗi tháng 3.000.000 đồng, để phụ giúp H trong việc tổ chức đánh bạc với các công việc cụ thể như: Theo dõi các “tịch đề” do X, Th và các “đại lý ghi lô đề” chuyển đến hàng ngày; ghi chép, đối chiếu với kết quả giải thưởng của xố số kiến thiết để tính toán tiền thắng thua trong ngày rồi ghi lại vào giấy (tịch đề) và lưu giữ, đối chiếu, thu, trả tiền thắng thua cho X, Th và các đại lý ghi lô đề. Như vậy, hành vi của Phan Quốc Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HSST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử các bị cáo Phan Thị Mai H, Phan Quốc Q, Huỳnh Thị Trúc Th về tội “Tổ chức đánh bạc”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự và bị cáo Mai Thị Thanh X về tội “Tổ chức đánh bạc”, quy định tại theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về dấu hiệu đồng phạm trong vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát cho rằng ngoài các bị cáo Phan Quốc Q, Huỳnh Thị Trúc Th và Mai Thị Thanh X giúp bị cáo Phan Thị Mai H trong việc tổ chức đánh bạc, hồ sơ vụ án còn thể hiện một số đối tượng có dấu hiệu đồng phạm với Phan Thị Mai H trong việc tổ chức đánh bạc. Cụ thể:
* Đối với Nguyễn Minh Giao C: là một trong những đầu mối chuyển tịch đề cho Phan Thị Mai H. Chiều ngày 31/10/2021, C đã chuyển cho H tịch đề với số tiền 1.090.000 đồng. Khi bị cơ quan công an mời làm việc, có 02 người tiếp tục chuyển tịch đề vào số điện thoại 0896670554 của C, là Đặng Lan H với số tiền 5.321.000 đồng, Võ Xuân H 4.182.000 đồng. Cần phải tiếp tục điều tra để xác định hành vi Nguyễn Minh Giao C, Đặng Lan H cấu thành về tội “Tổ chức đánh bạc” (Điều 322 BLHS) hoặc tội “Đánh bạc” (Điều 321 BLHS) và xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
* Đối với Nguyễn Ngọc D, Trương Văn T: Vợ chồng H D làm cái số đề từ 2016 đến tháng 02/2020 thì D giao lại cho H tự làm chủ cái. Bị cáo H khai năm 2020, D giao tài khoản zalo “Dũng Nguyễn” để cho H tự làm cái, còn D chỉ biết lời lỗ. Bị cáo Huỳnh Thị Trúc Th khai, đầu năm 2021 vợ chồng D – H đến nhà đặt vấn đề với vợ chồng Th – T về việc ghi số đề và cho hưởng hoa hồng 07% trển tổng tiền ghi được. Khoảng 17h hàng ngày, Th nộp tịch cho D qua ứng dụng viber (số điện thoại 0769503316), đến 9 giờ 00 sáng hôm sau, chồng Th (T) trực tiếp cầm tiền khách chơi đề đến nhà D để đưa cho D hoặc H. Chiều 31/10/2021, Th đang tổng hợp tịch đề để chuyển cho D thì bị Công an bắt quả tang. Do đó, cần phải điều tra để làm rõ vai trò đồng phạm của Nguyễn Ngọc D, Trương Văn T để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 31/10/2021, Công an tỉnh Khánh Hòa đã tạm giữ của Phan Thị Mai H 01 ĐTDĐ Iphone 13 Pro max lắp sim số 0933607168; tạm giữ của Huỳnh Thị Trúc Th 01 ĐTDĐ Iphone 12 Pro max gắn sim số 0935177285, 01 ĐTDĐ Iphone Xs max gắn sim số 0935 775 787; tạm giữ của Phan Quốc Q 01 ĐTDĐ Iphone 7 gắn sim số 0706 012 776. Theo tài liệu điều tra thể hiện đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa đã trả số vật chứng này cho các bị cáo Phan Thị Mai H, Huỳnh Thị Trúc Th là vi phạm Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
3/ Về áp dụng biện pháp tư pháp:
Án sơ thẩm tuyên:
- Buộc bị cáo Th nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền tổ chức cho người khác đánh bạc dưới hình thức ghi lô đề trong ngày 31/10/2021 là 57.237.700 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi bảy ngàn bảy trăm đồng).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tổng số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th từ ngày 05/10/2021 đến ngày 30/10/2021 là 70.873.000 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm bảy mươi ba ngàn đồng); Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th vào ngày 31/10/2021 là 4.060.600 đồng (Bốn triệu không trăm sáu mươi ngàn sáu trăm đồng).
- Buộc bị cáo X nộp vào ngân sách Nhà nước tổ chức cho người khác đánh bạc dưới hình thức ghi lô đề trong ngày 31/10/2021 là 8.656.000 đồng (Tám triệu sáu trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).
Theo tài liệu có tại hồ sơ vụ án thể hiện:
Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th từ ngày 05/10/2021 đến ngày 30/10/2021 là 66.813.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th vào ngày 31/10/2021 là 4.060.600 đồng. Tổng cộng số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th từ 05/10/2021 đến 31/10/2021 là 70.873.600 đồng.
Nhưng án sơ thẩm tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tổng số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th từ ngày 05/10/2021 đến ngày 30/10/2021 là 70.873.000 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm bảy mươi ba ngàn đồng); Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th vào ngày 31/10/2021 là 4.060.600 đồng là có sự trùng lắp.
Về số tiền dùng đánh bạc ngày 31/10/2021, án sơ thẩm tuyên buộc các bị cáo nộp ngân sách Nhà nước gồm: bị cáo Th phải nộp 57.237.700 đồng; Bị cáo X phải nộp 8.656.000 đồng, mà không trừ số tiền đã tạm giữ của các bị cáo theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 31/10/2021 là chưa phù hợp.
Xét thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ, cần điều tra làm rõ vai trò của các đối tượng Nguyễn Minh Giao C, Đặng Lan H, Võ Xuân H, Trương Văn T, Nguyễn Ngọc D trong vụ án. Vi phạm thủ tục tố tụng về việc xử lý vật chứng và có sự sai sót trong việc áp dụng biện pháp tư pháp. Do đó cần phải hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án đúng pháp luật.
Do vụ án bị hủy để điều tra, xét xử lại theo quy định pháp luật nên không xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo.
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào Điều 343; điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HSST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
Chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang điều tra lại theo thủ tục chung.
2/ Án phí: Các bị cáo Phan Thị Mai H, Phan Quốc Q, Huỳnh Thị Trúc Th và Mai Thị Thanh X không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 – TANDTC; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ, Công an tỉnh Khánh Hòa; - TAND thành phố Nha Trang; - VKSND thành phố Nha Trang; - Chi cục THADS TP Nha Trang; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Anh Khoa |