vanban.org

Bản án 37/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 03/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Mua bán hàng cấm”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến D 05 (Năm) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 05/01/2023 đến ngày 19/01/2023. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm b Điều 46 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BUÔN BÁN HÀNG CẤM - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Mua bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ JÚT
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/HSST.
Ngày 03/8/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Bào.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hòa và bà Nguyễn Thị Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyết – Kiểm sát viên.

Ngày 03/8/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2023/TLST-HS ngày 11/5/2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST- HS ngày 02/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2023/HSST- QĐ ngày 14/7/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tiến D; sinh năm 1988 tại tỉnh H; nơi cư trú: Tổ dân phố 7, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đ; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Nguyễn Hùng M, sinh năm 1957 và bà Trần Thị T, sinh năm 1960; vợ Nguyễn Thị Thu U, sinh năm 2000 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2023 đến ngày 19/01/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Viết H, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn Ea T’Ling, huyện C, tỉnh Đ (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

1/ Chị Lương Thị H, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Tổ dân phố 7, TT Ea T’Ling, huyện C, tỉnh Đ ( Vắng mặt).

2/ Chị Nguyễn Thị Thu U, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Tổ dân phố 7, TT Ea T’Ling, huyện C, tỉnh Đ (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 9/2022 thông qua mạng xã hội Facebook, Nguyễn Tiến D thấy có người (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đăng bán pháo nổ trên mạng. D nãy sinh ý định mua pháo nổ về nhà cất giấu, mục đích để gần tết Nguyên đán năm 2023 bán lại để thu lợi nhuận. Sau đó, D đặt mua 48 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống/01 hộp, với tổng số tiền là 43.000.000 đồng của người (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đăng bán pháo trên mạng xã hội, được người bán đồng ý và hẹn ngày hôm sau đến khu vực Trạm thu lệ phí thuộc địa phận xã Đắk Gằn, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông nhận pháo nổ. Hôm sau, D đón xe taxi đi đến điểm đã hẹn để nhận pháo nổ. Khi đi đến nơi, D thấy một người đàn ông đang đứng tại lề đường Quốc lộ 14 cùng với thùng carton, D xuống xe và hỏi người đàn ông này bán pháo hoa nổ phải không thì người đó trả lời phải, D kiểm tra bên trong thùng carton thấy có 48 hộp pháo nổ, D liền đưa tiền 43.000.000 đồng cho người đàn ông bán pháo, người đó bỏ đi, còn D ôm thùng pháo bỏ vào cốp xe taxi, rồi nói tài xế taxi đưa về nhà ở tổ dân phố 7, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đ. Về đến nhà, D lấy 48 hộp pháo hoa nổ ra khỏi thùng carton, rồi cất giấu vào ngăn kéo dưới và ngăn trên của tủ quần áo để trong phòng ngủ của D, D còn lấy một số quần áo tủ lên trên các hộp pháo trong tủ để tránh bị phát hiện.

Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 05/01/2023, Trương Viết H đến nhà D hỏi mua 02 hộp pháo hoa nổ, D đồng ý bán với giá 3.200.000 đồng và hẹn H đến ngã ba nhà hàng Thiên Lý thuộc tổ dân phố 7, thị trấn Ea T’Ling, huyện Cư Jút nhận pháo. Khi H bỏ đi, D vào phòng ngủ lấy 02 hộp pháo hoa nổ, bỏ vào một hộp carton rồi cầm đi bộ ra ngã ba nhà hàng Thiên Lý để bán cho H. Giao pháo cho H xong, D nói với H tiền pháo để ngày mai trả sau cũng được, rồi D đi về nhà. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày khi Trương Viết H đang cầm trên tay hộp carton bên trong có chứa 02 hộp pháo nổ thì bị Công an huyện Cư Jút bắt quả tang về hành vi tàng trữ hàng cấm, thu giữ 02 hộp nghi pháo hoa nổ có trọng lượng 3,8 kg và niêm phong theo quy định. Quá trình điều tra Trương Viết H khai 02 hộp pháo hoa nổ trên H mua của Nguyễn Tiến D. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jút khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tiến D tại tổ dân phố 7, thị trấn E, huyện C thu giữ 46 hộp nghi là pháo nổ, có tổng trọng lượng 86,5 kg; kích thước mỗi hộp là (17 x 17 x 10) cm và được niêm phong theo quy định.

Tại Kết luận giám định số: 822/KL- KTHS ngày 11/01/2023 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ Công an tại Tp. Hồ Chí Minh kết luận:

- Khi bắt quả tang, thu giữ của Trương Viết H 02 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 3,8 kg. `

- Khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Tiến D đã thu giữ 46 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 85,5 kg.

Hoàn lại đối tượng sau giám định là 30 khối hình hộp chữ nhật có kích thước (17 x 17 x 10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc bên trong mỗi khối có 49 ống giấy, tất cả được niêm phong trong thùng giấy carton có chữ ký của Bùi Mạnh Hùng, Đỗ Minh Quang và đóng dấu tròn đỏ của Phân viện khoa học hình sự- Bộ Công an tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản Cáo trạng số: 28/CTr-VKS ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến D về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến D như nội dung bản Cáo trạng số: 28/CTr-VKS ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 của BLHS. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D từ 06 năm đến 07 năm tù.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm b Điều 46 của BLHS; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS):

- Chấp nhận cơ quan điều tra đã trả cho bị cáo Nguyễn Tiến D 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen.

- Tịch thu tiêu hủy 30 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước (17 x 17 x 10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc bên trong mỗi khối có 49 ống giấy, tất cả được niêm phong trong thùng giấy carton có chữ ký của Bùi Mạnh Hùng, Đỗ Minh Quang và đóng dấu tròn đỏ của Phân viện khoa học hình sự, hoàn lại sau giám định.

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong ` quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với hành vi của bị cáo, HĐXX xét thấy: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 05/01/2023 tại tổ dân phố 7, TT Ea T’Ling, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Tiến D đã có hành vi buôn bán hàng cấm, thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút phát hiện bắt khẩn cấp, thu giữ vật chứng là 89,3kg pháo nổ.

Hành vi của Nguyễn Tiến D đã phạm vào tội“Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 của BLHS.

Xét các chứng cứ buộc tội bị cáo và quan điểm xử lý đối với bị cáo Nguyễn Tiến D của đại diện Viên kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên HĐXX cần chấp nhận.

Điều 190 Tội buôn bán hàng cấm

1.Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này thì bị phạt tiền từ 100.000.000đ đến 1.000.000.000đ hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

g) Pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam.

Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến D đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước trong việc mua bán hàng cấm đối với pháo nổ; bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Nhà nước nghiêm cấm cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, việc vận chuyển pháo nổ nhưng vẫn cố tình là vi phạm pháp luật. Bị cáo đã có hành vi mua bán 89,3 kg pháo nổ để nhằm mục đích thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định thì mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Xét về nhân thân: Năm 2019, Nguyễn Tiến D bị Công an huyện Cư Jút xử phạt vi phạm hành chính dưới hình thức phạt tiền, về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, bị cáo đã chấp hành xong và đã được xóa tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ này để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. `

Đối với Trương Viết H có hành vi Tàng trữ hàng cấm, là pháo hoa nổ có trọng lượng 3,8kg, chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông đề nghị Chủ tịch UBND huyện Cư Jút xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Viết H theo quy định.

Đối với người đàn ông bán pháo nổ cho bị cáo Nguyễn Tiến D tại Trạm thu lệ phí xã Đắk Gằn, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Vì vậy, chưa có căn cứ để xử lý đối với người này.

Đối với người lái xe taxi mà bị cáo Nguyễn Tiến D thuê đi nhận pháo, chở pháo về nhà thì bị cáo D không biết tên, địa chỉ của người lái xe này, D cũng không nhớ biển số xe taxi này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với bà Nguyễn Thị Thu U (vợ của bị cáo D) sống cùng nhà với bị cáo tại tổ dân phố 7, TT Ea T’Ling, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông. Nhưng bà U không biết việc bị cáo D mua pháo nổ và cất dấu pháo nổ tại nhà bà nên không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm b Điều 46 của BLHS; điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS:

- Chấp nhận cơ quan điều tra đã trả cho bị cáo D 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo nổ hoàn lại sau giám định gồm 30 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước (17 xb17 xb10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc bên trong mỗi khối có 49 ống giấy, tất cả được niêm phong trong thùng giấy carton có chữ ký của Bùi Mạnh Hùng, Đỗ Minh Quang và đóng dấu tròn đỏ của Phân viện khoa học hình sự- Bộ công an tại thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Mua bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến D 05 (Năm) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 05/01/2023 đến ngày 19/01/2023.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm b Điều 46 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho bị cáo D 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo nổ hoàn lại sau giám định gồm 30 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước (17 x 17 x 10) cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc bên trong mỗi khối có 49 ống giấy, tất cả được niêm phong trong thùng giấy carton có chữ ` ký của Bùi Mạnh Hùng, Đỗ Minh Quang và đóng dấu tròn đỏ của Phân viện khoa học hình sự thành phố Hồ Chí Minh.

3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Tiến D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ