- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh B - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố Nguyễn Thanh B phạm Tội mua bán hàng cấm.
- Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HSST Ngày: 27/4/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hòa;
Ông Trần Quang Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Dương Thế Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2023/HSST ngày 15 tháng 3 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST – HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh B, sinh năm 1973, tại tỉnh Hải Dương.
Căn cước công dân số: 030073010xxx Cấp ngày: xx/6/2022
Nơi cư trú: Khu phố x, phường P, thị xã P, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đỗ M (đã chết) và bà Vũ Thị T; bị cáo có vợ và 03 người con lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất, sinh năm 2011; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày xx tháng x năm 2020, bị Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về Tội vận chuyển hàng cấm quy định tại khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự; bị cáo chưa chấp hành xong Bản án.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 14/10/2022, Nguyễn Thanh B điều khiển xe mô tô biển số 75K4 – 01XX mượn của chị Trương Thị A đi đến khu vực chợ Phước Bình thuộc thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. Khi đến nơi, B gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lý lịch) mua 500 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 250 bao nhãn hiệu Jet và 250 bao nhãn hiệu Hero với giá 5.675.000 đồng. Mua xong, B dùng xe mô tô biển số 75K4 – 01XX chở toàn bộ số thuốc lá điếu trên đến khu vực huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước nhằm mục đích bán lại kiếm tiền lời. Khi B đi đến khu vực thôn 2, xã Bình Minh, huyện Bù Đăng thì bị lực lượng Công an huyện Bù Đăng kiểm tra phát hiện, thu giữ 500 bao thuốc lá điếu và 01 xe mô tô. Thấy có dấu hiệu tội phạm, nên Công an huyện Bù Đăng đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với B để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Công văn số 176/CV-2022 ngày 15/12/2022 của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam, kết luận: 500 bao thuốc lá điếu có nhãn hiệu: Jet (250 bao) và Hero (250 bao) do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bù Đăng cung cấp là thuốc lá điếu nhập lậu.
- Về vật chứng vụ án:
+ 01 xe mô tô biển số 75K4 – 01XX và giấy đăng ký xe trả cho chị Trương Thị A đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
+ 01 căn cước Công dân số 030073010605 đã trả cho Nguyễn Thanh B.
+ 500 bao thuốc lá điếu chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ quá trình truy tố, xét xử.
Tại Cáo trạng số: 31/CT –VKS.BĐ ngày 14/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Nguyễn Thanh B về Tội mua bán hàng cấm theo điểm e khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, vì vậy đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm Tội mua bán hàng cấm.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 190, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B từ 12 đến 18 tháng tù.
Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai Bản án.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị xử xử phạt bổ sung bị cáo từ 20 đến 30 triệu đồng.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 14/10/2022, Nguyễn Thanh B điều khiển xe mô tô biển số 75K4 – 01XX mượn của chị Trương Thị A để mua 500 bao thuốc lá điếu nhập lậu từ một người đàn ông (không rõ nhân thân lý lịch) tại khu vực chợ Phước Bình thuộc thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước với giá là 5.675.000 đồng. Mua xong, B điều khiển xe mô tô chở toàn bộ số thuốc lá điếu trên đến khu vực huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước để bán với mục đích là bán lại kiếm tiền lời. Khi B đến khu vực thôn 2, xã Bình Minh, huyện Bù Đăng thì bị lực lượng Công an huyện Bù Đăng kiểm tra phát hiện, lập biên bản phạm tội quả tang đối với B.
Căn cứ vào Công văn số 176/CV-2022 ngày 15/12/2022 của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam, kết luận: 500 bao thuốc lá điếu có nhãn hiệu: Jet (250 bao) và Hero (250 bao) là thuốc lá điếu nhập lậu.
Mặc dù, tại lần phạm tội này số lượng hàng cấm bị cáo mua bán chưa đủ định lượng đển xử lý hình sự theo quy định tại Điều 190 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, do bị cáo đã có 01 tiền án về Tội vận chuyển hàng cấm, chưa được xóa án tích, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội mua bán hàng cấm quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh B đã phạm vào Tội mua bán hàng cấm, theo điểm e khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 190. Tội mua bán hàng cấm
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
e) Sản xuất, buôn bán hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại rất lớn cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với hàng hóa. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ thuốc lá lậu là loại hàng hóa bị nhà nước cấm buôn bán và lưu hành nhưng chỉ vì lợi nhuận mà bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn, hối cải, bị cáo có con còn nhỏ, bị cáo có cha là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng Huân chương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017.
Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 190 thì ngoài hình phạt chính thì Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, bị cáo đang ở độ tuổi lao động nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Đối với 01 xe ôtô biển số 75K4 – 01XX và giấy đăng ký xe, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng đã trả cho chị Trương Thị A nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 căn cước Công dân trả cho Nguyễn Thanh B nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Cần tịch thu tiêu hủy 500 bao thuốc lá điếu.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Đối với chị Trương Thị A không biết B sử dụng xe mô tô biển số 75K4 – 01XX vào việc phạm tội nên không có căn cứ xử lý.
- Đối với người đàn ông bán 500 bao thuốc lá điếu nhập lậu cho B (không rõ nhân thân lý lịch), không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh. Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xử lý xác minh sau.
Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố Nguyễn Thanh B phạm Tội mua bán hàng cấm.
Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 190, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Bình 01 năm, 03 tháng tù (một năm, ba tháng tù).
Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp với hình phạt 03 năm tù tại Bản án số xx/2020/HSST ngày 03/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước. Buộc bị cáo phải chấp hành 04 năm, 03 tháng tù (bốn năm, ba tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam, tạm giữ từ ngày 17/8/2019 đến ngày 04/10/2019.
Áp dụng khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thanh B 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
[2] Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 500 bao thuốc lá điếu.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 0010XXX ngày 07/3/2023 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Đăng).
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước. - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước; - Công an tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Bù Đăng; - CCTHADS huyện Bù Đăng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |