vanban.org

Bản án 37/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Tuyên án 28/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vừ Sái Ch phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Vừ Sái Ch 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 10/3/2023). Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vừ Sái Ch - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vừ Sái Ch phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG NHÉ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 37/2023/HS-ST
Ngày 27-6-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Thuy

Ông Lầu A Tính

- Thư ký phiên tòa: Bà Đao Thị Bích Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Thào A Di - Kiểm sát viên.

Ngày 27/6/2023 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Leng Su Sìn, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2023/TLST-HS ngày 11/5/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS ngày 14/6/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vừ Sái Ch (Tên gọi khác: Không); Sinh năm 1964 tại xã N, huyện S, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản C, xã L, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vừ Nệnh S (đã chết) và bà Vàng Thị S (đã chết); Có vợ là Vàng Thị H (sinh năm 1969) và có 06 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xét xử; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/3/2023 đến ngày 19/3/2023, bị tạm giam từ 19/3/2023 đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Mai Thị Thanh L Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vàng Thị H, sinh năm 1969, trú tại: Bản C, xã L, huyện M, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 1 năm 2023 Vừ Sái Ch một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27B1-935.62 đi từ nhà đến khu vực bản N, xã M, huyện M để chơi tết thì gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt 04 viên hồng phiến với giá tiền 200.000 đồng, sau đó mang về nhà cất giấu ở trong hốc cột nhà. Đến 7 giờ 30 phút ngày 10/3/2023 Vừ Sái Ch đi xe mô tô trên đi tìm bò của gia đình, khi đi Ch mang theo 04 viên hồng phiến để đề phòng đau bụng thì dùng. Đến 9 giờ cùng ngày 10/3/2023 khi Ch điều khiển xe mô tô đến bản S, xã Sen Th, huyện M thì bị Tổ công tác Đồn biên phòng Sen Thượng phối hợp với Đồn biên phòng Leng Su Sìn, công an huyện Mường Nhé và Công an xã Sen Thượng phát hiện bắt quả tang, tổ công tác thu giữ của Ch 04 viên hồng phiến được gói trong mảnh giấy nilon màu xanh và 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1-935.62. Ch khai nhận mục đích mua viên hồng phiến về sử dụng cho bản thân chữa bệnh đau bụng.

Kết luận giám định số 473/KL-KTHS ngày 17/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Vừ Sái Ch là 0,36 gam; mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Vừ Sái Ch gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine;

Cáo trạng số 23/CT-VKS-MN ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Vừ Sái Ch để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,18 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi đã trích giám định và trích test nhanh chất ma túy), 01 mảnh nilon màu xanh, đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen-đỏ loại xe Wave RSX, biển kiểm soát 27B1-935.62, trả lại cho chị Vàng Thị Hạ ½ giá trị chiếc xe máy trên; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; phần hình phạt chính đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Vàng Thị H tại phiên tòa khai: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-935.62 là tài sản chung của vợ chồng chị. Chị H khai chị không biết gì về việc bị cáo Vừ Sái Ch dùng xe mô tô này đi mua ma túy, chị cũng không biết bị cáo Ch cất giấu ma túy trong nhà, chị đề nghị trả lại cho chị ½ giá trị xe mô tô trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Vừ Sái Ch khai: Vào tháng 1 năm 2023 bị cáo tìm mua được của một người đàn ông lạ mặt 0,36 gam Methamphetamine với giá 200.000 đồng tại khu vực bản N, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, bị cáo mua về với mục đích để dùng chữa bệnh đau bụng. Đến 9 giờ ngày 10/3/2023 tại khu vực bản S, xã S, huyện M bị cáo bị phát hiện bắt quả tang tàng trữ trái phép chất ma túy, bị thu giữ 0,36 gam Methamphetamine và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-935.62. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với kết luận giám định, Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hành vi tàng trữ trái phép 0,36 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 23/CT-VKS-MN ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. Xét đề nghị của người bào chữa và viện kiểm sát có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của viện kiểm sát và người bào chữa.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, xác minh tại nơi ở của bị cáo không có tài sản gì có giá trị, hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,18 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã trích giám định (Khối lượng Methamphetamine thu giữ là 0,36 gam, đã trích giám định 0,1 gam, trích 0,09 gam test chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật giám định) 01 mảnh nilon màu xanh, xét thấy đây là vật nhà nước cấm tàng trữ và vật chứng đã hết giá trị sử dụng nên cần căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen-đỏ loại xe Wave RSX, biển kiểm soát 27B1-935.62, hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe mô tô này là tài sản chung của hai vợ chồng bị cáo, bị cáo Ch đã sử dụng chiếc xe này làm phương tiện để đi mua ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, chị H vợ bị cáo không biết gì về việc bị cáo dùng chiếc xe này để đi mua ma túy, do vậy cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 213, 218, 219 Bộ luật Dân sự: Tịch thu ½ giá trị chiếc xe để nộp vào ngân sách Nhà nước; Trả lại cho chị Vàng Thị H ½ giá trị chiếc xe trên (kèm chìa khóa xe).

Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Vừ Sái Ch phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Vừ Sái Ch 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 10/3/2023).

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu, tiêu huỷ 0,18 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã trích giám định (khối lượng Methamphetamine thu giữ của Vừ Sái Ch là 0,36 gam, đã trích giám định 0,1 gam, trích 0,09 gam test chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật giám định) và 01 mảnh nilon màu xanh.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biểm kiểm soát 27B1-935.62, số máy JA38E0505859, số khung RLHJA3806KY011287.

Trả lại cho chị Vàng Thị H ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biểm kiểm soát 27B1-935.62, số máy JA38E0505859, số khung RLHJA3806KY011287 (kèm chìa khóa xe).

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/5/2023 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/6/2023). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/6/2023).

Cỡ chữ