- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Bá H "Tổ chức đánh bạc" - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Tiền S, Dương Văn S, Từ Hữu S, Nguyễn Thành N, Nguyễn Văn H, Lê Mậu H phạm tội “Đánh bạc”; bị cáo Đàm Bá H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy và tịch thu; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37 /2018/HS-ST Ngày: 29-6-2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Kiều Vân
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Anh.
2. Bà Vũ Thị Hảo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuất – Kiểm sát viên.
Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Quang Tuyến – Thư ký TAND huyện Vĩnh Cửu.
Ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2018/QĐXXST-HS ngày 13/6/2018 đối với các bị cáo:
1. Đàm Bá H, sinh ngày 08/8/1984, tại: Bắc Ninh.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp 1, xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: ấp 1, xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đàm Đức Đ, sinh năm 1962 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1962; có vợ là Ngô Thị T, sinh năm 1984 và 02 con sinh năm 2006, 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Từ Hữu S, sinh ngày 15/01/1985, tại: Hà Tĩnh.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở hiện nay: khu phố 4, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Từ Xuân A, sinh năm 1949 và bà Trần Thị C, sinh năm 1949; có có vợ là Bùi Thị Cẩm P, sinh năm 1992, có 02 con sinh năm 2013, 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2018 đến ngày 01/02/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt.
3. Nguyễn Thành N, sinh ngày 15/4/1981, tại: Bắc Giang.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố 3, Thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Khu phố 3, Thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1950 và bà Lê Thị L, sinh năm 1952; Có vợ là Lê Thị Kim P, sinh năm 1981 (Đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2018 đến ngày 01/02/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt.
4. Dƣơng Văn S, sinh ngày 24/9/1984, tại: Hải Dương.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Kỹ sư; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn A, sinh năm 1954 và bà Vũ Thị T, sinh năm: 1959; có vợ là Bùi Thị L, sinh năm 1992, có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2018 đến ngày 01/02/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt.
5. Lê Mậu H, sinh ngày 21 tháng 11 năm 1992, tại: Khánh Hòa.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 5, khu phố 2, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Tổ 5, khu phố 2, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Mậu T, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Lê T, sinh năm 1970; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2018 đến ngày 01/02/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt.
6. Nguyễn Văn H, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1967, tại: Hà Nội.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 6, khu phố 3, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Tổ 6, khu phố 3, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N (Đã chết) và bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1933; có vợ là Nguyễn Thị P, sinh năm 1966 và 02 con sinh năm 1996 và 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2018 đến ngày 01/02/2018 được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt.
7. Vũ Tiền S, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1974, tại: Phú Thọ.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 1, ấp 1, xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Tổ 1, ấp 1, xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Cơ khí xây dựng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình T, sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1950; có vợ là Vũ Thị T, sinh năm 1981 và 01 con sinh năm 2000; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 23/7/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2018 đến ngày 01/02/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Trọng L, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp 3, xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Anh Vũ Văn T, sinh năm 1964; Địa chỉ: Ấp 1, xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
- Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu phố 5, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Anh Đàm Đức Đ, sinh năm 1962; Địa chỉ: Ấp 1, xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 ngày 29/01/2018, Đàm Bá H, sinh năm 1984, trú tại ấp 1, xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai gọi điện rủ các đối tượng Nguyễn Văn H, sinh năm 1967; Dương Văn S, sinh năm 1984 cùng trú tại khu phố 3, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai đến nhà H để đánh bạc, S và H đồng ý. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày các đối tượng Nguyễn Văn H, Dương Văn S, Lê Mậu H, sinh năm 1992, trú tại khu phố 2, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Vũ Tiền S, sinh năm 1974; Nguyễn Trọng L, sinh năm 1986 cùng trú ấp 1, xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Thành N, sinh năm 1981, trú tại khu phố 3, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Từ Hữu S, sinh năm 1985, ngụ khu phố 4, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai và một số đối tượng khác (Không xác định được nhân thân, lai lịch) đến nhà Đàm Bá H để tham gia đánh bạc bằng hình thức “Cào tố”. Các đối tượng chia thành hai chiếu bạc:
Chiếu bạc thứ nhất đánh bạc trên phản gỗ gồm có: Dương Văn S, Vũ Tiền S, Nguyễn Văn H và Từ Hữu S.
Chiếu bạc thứ hai đánh bạc dưới nền gạch gồm có: Nguyễn Thành N, Lê Mậu H, Nguyễn Trọng L và 01 đối tượng (chưa xác định rõ nhân thân). Khoảng 15 giờ 30 cùng ngày Nguyễn Trọng L thua bạc hết tiền nên nghỉ ngồi xem. Hai sòng bạc đánh đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Đàm Bá H và một số đối tượng chưa rõ nhân thân chạy thoát. Đến ngày 05/02/2018 Đàm Bá H ra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, H khai nhận trong lúc tổ chức đánh bạc cho các con bạc thu tiền xâu được 100.000 đồng.
* Tang vật thu giữ:
- Thu tại chiếu bạc dưới nền gạch:
+ Số tiền: 9.500.000 đồng.
+ 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá.
+ 01 chiếc chiên (mền)
- Thu giữ trên phản gỗ:
+ Số tiền: 6.100.000 đồng.
+ 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá.
+ 01 chiếc chăn vải màu đỏ.
- Thu giữ trong người các đối tượng:
+ Từ Hữu S số tiền 10.400.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đỏ đen.
+ Nguyễn Tiến Đ số tiền: 3.400.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A3, màu hồng.
+ Nguyễn Văn H: 01 điện thoại di động Iphone 4 màu đen.
+ Nguyễn Thành N: Số tiền 100.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime.
+ Dương Văn S: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen.
+ Vũ Tiền S: Số tiền 23.700.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J 7, màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.
+ Vũ Văn T: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen.
+ Lê Mậu H: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen.
+ Nguyễn Trọng L: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230 màu đen.
* Các đối tượng khai nhận sử dụng số tiền đánh bạc cụ thể như sau:
- Từ Hữu S khi bị bắt thu giữ 10.400.000 đồng. Trong đó Sơn sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc. Thắng bạc 400.000 đồng. Còn lại số tiền 7.000.000 đồng là tiền của S không sử dụng vào đánh bạc.
- Nguyễn Thành N sử dụng 1.300.000 đồng để đánh bạc. Thua bạc 1.200.000 đồng. Còn lại 100.000 đồng.
- Vũ Tiền S khi bị bắt thu giữ 23.700.000 đồng; trong đó S sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc; thắng bạc 700.000 đồng; còn lại số tiền 20.000.000 đồng là tiền của S không sử dụng vào đánh bạc.
- Lê Mậu H sử dụng 1.200.000 đồng để đánh bạc, thua bạc 200.000 đồng. Còn lại 1.000.000 đồng để luôn trên chiếu bạc.
- Nguyễn Văn H sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, thua bạc 1.300.000 đồng. Còn lại 200.000 đồng khi bị bắt bỏ chạy rơi đâu không rõ.
- Dương Văn S sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc, thua bạc 300.000 đồng. Còn lại 100.000 đồng để luôn tại chiếu bạc.
- Nguyễn Trọng L sử dụng 700.000 đồng để đánh bạc, thua hết tiền nên nghỉ trước khi bị bắt quả tang.
Tổng số tiền thu giữ trong người các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 7.200.000 đồng cụ thể như sau: Từ Hữu S là 3.400.000 đồng; Nguyễn Thành N là 100.000 đồng; Vũ Tiền S là 3.700.000 đồng.
Đàm Bá H khai nhận đứng ra tổ chức sòng bạc cho các con bạc đánh bạc tại nhà trước đó khoảng 01 tuần và trực tiếp thu tiền xâu, thu lợi được số tiền 800.000 đồng, nhưng H đã mua bài tây, thuốc lá và nước cho các con bạc. Ngày 29/01/2018 H thu xâu số tiền 100.000 đồng. H đã tự nguyện giao nộp số tiền 100.000 đồng.
* Cách thức đánh bạc bằng hình thức “Cào tố” như sau:
- Các con bạc sử dụng bài tây loại 52 lá để đánh bạc. Bắt đầu mỗi ván bài, các con bạc đặt 100.000 đồng gọi là “tiền đường” sau đó chia bài cho mỗi tụ 03 lá bài, các con bạc tính điểm trên 03 lá bài tương ứng với số điểm trên quân bài, quân bài A (quân Át) được tính là 01 điểm, quân bài có hình gồm: J, Q, K được tính là 10 điểm. Sau khi cộng điểm 03 quân bài các con bạc “đấu tố” tiền cược với nhau, mức đấu tố cao nhất là 1.000.00.000 đồng. Con bạc không tham gia đấu tố bỏ bài nhận thua. Kết thúc “đấu tố” ván bạc các con bạc so điểm với nhau để xác định thắng thua bạc với nhau theo số điểm thứ tự từ 01 điểm đến 09 điểm, Ba tây (03 quân bài có hình), Liên (03 quân bài có số thứ tự liên tiếp nhau), Ba Cào (03 quân bài có cùng số thứ tự). Mỗi ván bạc chỉ có 01 người thắng bạc toàn bộ số tiền đường và tiền đấu tố trong ván bạc đó. Đánh bài “Cào tố” không có người cầm cái các con bạc trực tiếp đánh thắng thua với nhau nên đều phải chịu trách nhiệm chung hậu quả về số tiền đách bạc là 9.600.000 đồng gồm: Nguyễn Thành N, Lê Mậu H. Các đối tượng gồm: Dương Văn S, Vũ Tiến S, Nguyễn Văn H và Từ Hữu S chịu trách nhiệm chung về hậu quả với số tiền đánh bạc là 13.200.000 đồng.
* Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra xử lý trả lại cho:
- Từ Hữu S số tiền 7.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu đen.
- Nguyễn Thành N 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7Prime.
- Lê Mậu H 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen.
- Vũ Tiền S số tiền 20.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J 7, màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.
- Nguyễn Trọng L 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230 màu đen.
- Vũ Văn T 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen.
- Anh Nguyễn Tiến Đ số tiền: 3.400.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A3, màu hồng.
Đối tượng Nguyễn Trọng L đánh bạc với tổng số tiền dưới 5.000.000đ, chưa có tiền án, tiền sự, đã nghỉ đánh bạc trước khi bị bắt quả tang. Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính.
Bản cáo trạng số 44/CT-VKS-HS ngày 16/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố Đàm Bá H về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Vũ Tiền S, Dương Văn S, Từ Hữu S, Nguyễn Thành N, Lê Mậu H và Nguyễn Văn H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Bổ sung việc xác định bị cáo Vũ Tiền S chưa được xóa án tích và giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử kết tội các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng, đồng thời có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi áp dụng và quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo.
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1và khoản 3 Điều 322, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt:
Bị cáo Đàm Bá H từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng; phạt bổ sung bằng tiền từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
Áp dụng các khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo về tội “Đánh bạc”. Riêng bị cáo Vũ Tiền S không áp dụng điểm i khoản 1 điều 51 nhưng áp dụng thêm khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 khoản 3 Điều 321và Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Vũ Tiền S: Từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung bằng tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Bị cáo Từ Hữu S: Từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
Bị cáo Dương Văn S: Từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Thành N: Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn H: Từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
Bị cáo Lê Mậu H: Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Tổng số tiền 22.900.000 đồng (gồm tiền thu giữ trên chiếu bạc: 15.600.000 đồng + Số tiền thu giữ trong người các bị can sử dụng để đánh bạc: 7.200.000 đồng + Số tiền 100.000 đồng thu lợi bất chính do Đàm Bá H tự nguyện giao nộp); 02 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen và 01 điện thoại di động Iphone 4 màu đen.
+ Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bộ bài tây loại 52 lá và 02 chiếc chăn, mền. (không còn giá trị sử dụng).
- Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
* Ý kiến của các bị cáo: Các bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng và truy tố của Viện kiểm sát, đã nhận thức được các sai phạm của bản thân, xin được hưởng mức án nhẹ nhất và cam kết sẽ không tái phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 29/01/2018 các bị cáo Vũ Tiền S, Dương Văn S, Từ Hữu S, Nguyễn Thành N, Lê Mậu H, Nguyễn Văn H cùng với một số đối tượng tham gia đánh bạc tại nhà của Đàm Bá H (tại ấp 1, xã H, huyện V) với hai chiếu bạc bằng hình thức “Cào tố” ăn tiền. Đến 16 giờ 30 ngày 29/01/2018 thì bị Công an huyện Vĩnh Cửu phối hợp cùng Công an xã H bắt quả tang. Các bị cáo Dương Văn S, Từ Hữu S, Nguyễn Văn H và Vũ Tiền S tham gia đánh bạc trên phản gỗ bằng hình thức “Cào tố”, thu tại chiếu bạc số tiền 6.100.000 đồng; các bị cáo Nguyễn Thành N, Lê Mậu H, Nguyễn Trọng L và một đối tượng (chưa xác định rõ nhân thân) tham gia đánh bạc tại chiếu bạc dưới nền gạch bằng hình thức “Cào tố”, thu tại chiếu bạc số tiền là 9.500.000 đồng. Tại các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung và lời khai tại phiên tòa của các bị cáo thống nhất thừa nhận số tiền thu giữ trên chiếu bạc và thu giữ trên người từng bị cáo đúng như Cáo trạng đã nêu.
Các bị cáo đánh bạc bằng hình thức “Cào tố” không có người cầm cái, các con bạc trực tiếp đánh thắng thua với nhau nên đều phải chịu trách nhiệm chung hậu quả về số tiền thu trên từng chiếu bạc và dùng để đánh bạc. Hành vi của các bị cáo Vũ Tiền S, Dương Văn S, Từ Hữu S, Nguyễn Văn H, Lê Mậu H, Nguyễn Thành N phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đàm Bá H là người trực tiếp tổ chức cho các con bạc đánh bạc tại nhà của bị cáo để thu tiền xâu, ngày 29/01/2018 bị cáo đã thu được số tiền 100.000 đồng, hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu quyết định truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm trật tự trị an và nếp sống văn minh của xã hội, làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình yên, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội để răn đe đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Tiền S đã có một tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội thuộc tình tiết “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự nên phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác về hành vi đánh bạc.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về vi phạm của mình thuộc điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với các bị cáo Từ Hữu S, Dương Văn S, Nguyễn Văn H, Lê Mậu H, Nguyễn Thành N phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Tiền S và Đàm Bá H thuộc thành phần gia đình có công với cách mạng. Bị cáo S có cha ruột và ông Ngoại là được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến, huân chương lao động. Bị cáo Đàm Bá H có ông, bà Ngoại được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến, sau khi phạm tội bị cáo đã tự giác ra đầu thú và nhận thức được sai phạm của bản thân do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt, cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo có hành vi đánh bạc đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục đối với các bị cáo. Bị cáo Vũ Tiền S đã có một tiền án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích lại tiếp tục tham gia đánh bạc nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và không cần thiết cách ly để cải tạo nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền là đủ sức răn đe. Do bị cáo bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định của điều luật là phạt tiền nên không buộc bị cáo phải khấu trừ một phần thu nhập. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Vũ Tiền S theo quy định của Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
Về hành vi tổ chức đánh bạc của bị cáo Đàm Bá H là người trực tiếp tổ chức cho các bị cáo đánh bạc thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng nên cần có hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa từng có hành vi vi phạm pháp luật nào khác, có nơi cư trú ổn định, là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương nên không cần thiết cách ly mà để bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ nghiêm, đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo H theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Đối tượng Nguyễn Trọng L đã sử dụng số tiền 700.000 đồng tham gia đánh bạc, Vũ Văn T đã sử dụng 1.500.000 đồng tham gia đánh bạc nhưng đều bị thua hết tiền nên đã ngừng tham gia đánh bạc trước khi vụ án bị bắt quả tang. Do Nguyễn Trọng L và Vũ Văn T đều chưa có tiền án, tiền sự; đã nghỉ đánh bạc trước khi bị bắt quả tang nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Xét thấy các vật chứng đã thu giữ trong vụ án gồm: Số tiền số tiền 22.900.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen và 01 điện thoại di động Iphone 4 màu đen; 02 (hai) bộ bài tây loại 52 lá và 01 chiếc chăn màu đỏ và 01 chiếc mền màu hồng, được xác định là công cụ, phương tiện mà các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy và tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
Quan điểm xử lý về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu xét thấy phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được và nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Tiền S, Dương Văn S, Từ Hữu S, Nguyễn Thành N, Nguyễn Văn H, Lê Mậu H phạm tội “Đánh bạc”; bị cáo Đàm Bá H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Căn cứ các Điều 106, 136, 260, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Áp dụng điểm a, khoản 1 và khoản 3 Điều 322, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Đàm Bá H 01(Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đàm Bá H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Phạt bổ sung bị cáo Đàm Bá H số tiền: 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Từ Hữu S, Dương Văn S, Nguyễn Thành N, Nguyễn Văn H, Lê Mậu H; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 3 Điều 321, Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Tiền S;
Xử phạt:
Bị cáo Từ Hữu S: 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Bị cáo Dương Văn S: 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Bị cáo Nguyễn Thành N: 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Bị cáo Nguyễn Văn H: 20.000.000 đ (Hai mươi triệu đồng).
Bị cáo Lê Mậu H: 20.000.000 đ (Hai mươi triệu đồng).
Bị cáo Vũ Tiền S: 01(Một) năm cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ 03 (Ba) ngày (từ ngày 29/01/2018 đến ngày 01/02/2018), quy đổi thành 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ. Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại bị cáo S phải chấp hành là 11 (Mười một) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục nhận được quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và bản án.
Giao bị cáo Vũ Tiền S cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Phạt bổ sung bị cáo Vũ Tiền S số tiền 25.000.000 đ (Hai mươi lăm triệu đồng).
Miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo S trong thời gian chấp hành hình phạt.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: Số tiền 22.900.000 đ (Hai mươi hai triệu chín trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001887 ngày 16/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu; 02 điện thoại di động (gồm: 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen và 01 điện thoại di động Iphone 4 màu đen);
Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) bộ bài tây loại 52 lá (đã qua sử dụng); 01 chiếc chăn màu đỏ và 01 chiếc mền màu hồng.
(Các đồ vật theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu).
3. Về án phí: Buộc các bị cáo Đàm Bá H, Vũ Tiền S, Từ Hữu S, Dương Văn S, Nguyễn Thành N, Nguyễn Văn H, Lê Mậu H mỗi bị cáo phải chịu phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Vĩnh Cửu ; - Sở tư pháp Đồng Nai; - Cơ CSĐT công an huyện Vĩnh Cửu; - Cơ quan THAHS có thẩm quyền; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu; - Các bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa Đào Thị Kiều Vân |