vanban.org

Bản án 37/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 30/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình Q phạm tội “Trộm cắp tài sản" . Áp dụng: Điểm c khoản 2 điều 138; các điểm g, p khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Đình Q bị truy tố về tội "trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 37/2017/HSST
Ngày 30 - 11 - 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Anh Tuấn

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Hòa

2. Ông Đoàn Hữu Thanh

- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Anh Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Uỷ ban nhân dân phường L , thị xã B, tỉnh Quảng Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 33/2017/HSST ngày 06/10/2017, đối với bị cáo;

Trần Đình Q- sinh ngày 14/3/1985; Nơi ĐKHKTT: tổ dân phố C, phường T, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú hiện nay: tổ dân phố C1, phường T, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; con ông Trần P và bà Nguyễn Thị L (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Đoan T (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2012; Tiền án: Có 02 tiền án, ngày 26/3/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Bản án số 31/2008/HSPT, ngày 13/8/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 31/2010/HSST; tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình từ ngày 29/7/2017 cho đến nay. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

+ Anh Hồ Đức G, trú tại: Khu phố 2, phường Ba Đồn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình – Có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Trần Đình Q bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã B truy tố về những hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 02 giờ 00 ngày 29 tháng 7 năm 2017, trên đường đi chơi về do không có tiền tiêu xài nên Trần Đình Qnảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Trần Đình Q đi bộ dọc theo đường Q thuộc phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình tìm các nhà dân có sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến quán cà phê Rio ở khu phố 2, phường B, thị xã B của anh Hồ Đức G, Q quan sát thấy cửa cầu thang đi lên tầng 2 của quán không khóa, không có người canh giữ nên Q đi theo lối cầu thang lên tầng 2 của quán cà phê để tìm tài sản lấy trộm. Khi đi tới tầng 2, Q đi đến vị trí quầy ba, bàn thanh toán tiền của quán thì phát hiện có 01 máy in loại in hóa đơn thanh toán tiền, hiệu M, model POS80II-USE, vỏ màu đen và 01 bộ phát Wifi, hiệu TP-LINK, model TL-WA850RE, vỏ màu trắng để trên bàn. Q rút máy phát wifi ra khỏi ổ điện rồi lấy trộm máy in, bộ phát Wifi cùng dây cáp đi ra khỏi quán. Khi đi ra đến đường một bên quán cà phê thì Q điện thoại cho anh Lê Hoài N nhờ anh N chở về nhà anh N. Khi anh N chở Q về đến nhà thì Q gửi tài sản lấy trộm được tại nhà anh N rồi đi bộ về nhà nằm ngủ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 21/HĐ ngày 29 tháng 7 năm 2017 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã B xác định 01 máy in loại in hóa đơn thanh toán tiền, hiệu M, model POS80II-USE, vỏ màu đen và 01 bộ phát Wifi, hiệu TP-LINK, model TL-WA850RE, vỏ màu trắng, 01 dây cáp tại thời điểm bị mất trộm có giá trị: 4.070.000 đồng (Bốn triệu không trăm bảy mươi ngàn đồng)

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã tạm giữ và trả lại cho chủ sở hữa anh Hồ Đức G 01 máy in loại in hóa đơn thanh toán tiền, hiệu M, model POS80II-USE, vỏ màu đen và 01 bộ phát Wifi, hiệu TP-LINK, model TL-WA850RE, vỏ màu trắng, 01 dây cáp (Các vật chứng như mô tả tại Quyết định xử lý vật chứng số 37/CSĐT ngày 15/8/2017 của Công an thị xã B)

Về trách nhiệm dân sự: Anh Hồ Đức G đã nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, cam kết không có khiếu kiện khiếu nại gì về sau.

Tại bản Cáo trạng số 34/VKS - KT ngày 06/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B đã truy tố Trần Đình Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Đình Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138, điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Đình Q từ 24 đến 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giam 29/7/2017.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Trần Đình Q thống nhất khai nhận: Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 29/7/2017, lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại, bị cáo đã lén lút đột nhập vào quán cà phê Rio tại khu phố 2, phường Ba Đồn, thị xã Ba Đồn do anh Hồ Đức G làm chủ lấy trộm 01 máy in loại in hóa đơn thanh toán tiền, hiệu M, model POS80II-USE, vỏ màu đen và 01 bộ phát Wifi, hiệu TP-LINK, model TL-WA850RE, vỏ màu trắng cùng dây cáp. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của người bị hại là 4.070.000 đồng. Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm và các tài sản bị cáo đã chiếm đoạt; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để kết luận: bị cáo Trần Đình Q đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự

Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người bị hại, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe nhưng lại không chịu khó lao động, học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội mà ngược lại do thích đua đòi, hưởng thụ nên đã tìm cách phạm tội nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 26/3/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Bản án số 31/2008/HSPT; Ngày 13/8/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 31/2010/HSST. Tuy nhiên bị cáo Trần Đình Q chưa chấp hành xong phần hình phạt bổ sung nói trên. Như vậy bị cáo Trần Đình Q đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý. Điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng đối với bị cáo, đồng thời đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm vì thế bị cáo phải bị xử phạt theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự. Hành vi tái phạm nguy hiểm của bị cáo Trần Đình Q đã làm tình tiết định khung hình phạt nên không áp dụng làm tình tiết tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, số tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã được thu giữ kịp thời và giao trả cho người bị hại, bị cáo gây thiệt hại không lớn, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Liên quan đến vụ án có Lê Hoài N là người đã cho Trần Đình Q gửi tài sản do trộm cắp mà có tại nhà mình. Nhưng khi nhận cất giữ Lê Hoài N không biết đó là tài sản do Trần Đình Q trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cơ quan điều tra Công an thị xã B chỉ nhắc nhở, răn đe, giáo dục chung là phù hợp.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã thu giữ và trả lại tài sản cho chủ sở hữu anh Hồ Đức G. Anh G đã nhận lại tài sản và hiện không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra người bị hại là anh Hồ Đức G đã nhận lại đầy đủ tài sản bị mất trộm, hiện không có yêu cầu gì thêm. Vì vậy phần trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo Trần Đình Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình Q phạm tội “Trộm cắp tài sản" .

Áp dụng: Điểm c khoản 2 điều 138; các điểm g, p khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án:

Xử phạt bị cáo Trần Đình Q 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành phạt tù kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 29/7/2017.

Áp dụng các Điều 79, 80, 88 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo Trần Đình Q trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/11/2017) theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

2.Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

4. Về án phí: Bị cáo Trần Đình Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/11/2017 ( đối với những người có mặt) và trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án (đối với những người vắng mặt).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ