- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Minh S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1 - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh S (S Nhóc) đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 228 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2017/HSST Ngày: 06-9-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tuấn
- Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Đào Văn Hiến
2- Ông Trương Thanh Luật
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
Bà Phạm Thị Thi - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Tuấn Kiệt – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2017/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2017, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh S (S Nhóc), sinh ngày 01/6/1998; HKTT và chỗ ở: Khóm 1, MA, huyện X, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp không; trình độ văn hóa 06/12; con ông Nguyễn Văn I, sinh năm 1970 (còn sống) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1972 (còn sống); vợ, con chưa có; có 02 tiền sự (Ngày 06/10/2016, bị Ủy ban nhân dân thị trấn Mỹ An, huyện Tháp Mười ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn 03 tháng (đã chấp hành xong); ngày 20/01/2017 bị Tòa án huyện Tháp Mười ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc (chưa chấp hành)), tiền án không; tạm giữ ngày 27/3/2017; tạm giam ngày 05/4/2017; bị cáo còn bị tạm giam và có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Cao Vũ Đ - sinh năm: 1989 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm 1, MA, huyện X, Đồng Tháp.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ngô Thị Thu H - sinh năm: 1973 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm 1, MA, huyện X, Đồng Tháp.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Nguyễn Minh S bị Viện kiểm sát huyện Tháp Mười truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Anh Cao Vũ Đ là chủ cửa hàng Đại Tài chuyên mua bán điện thoại di động, sim số, card và các thiết bị di động khác. Vào khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 26/3/2017, bà Đặng Thị P (mẹ anh Đ) phát hiện cửa hàng bị kẻ trộm bẻ khóa đột nhập nên gọi anh Đ kiểm tra phát hiện bị mất trộm 04 điện thoại di động, nhiều card điện thoại và số tiền khoảng 1.500.000 đồng nên trình báo đến Công an. Qua đoạn video của camera trước của cửa hàng ghi lại được, lực lượng Công an nhận diện được người thực hiện hành vi đột nhập vào cửa hàng Đại Tài lấy trộm tài sản là Nguyễn Minh S nên đã tiến hành bắt khẩn cấp. Tại Cơ quan điều tra S khai nhận:
Vào khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 26/3/2017, sau khi chơi game tại tiệm Internet Tháp Sơn 2 (địa chỉ khóm 2, thị trấn MA, huyện X), S điện thoại cho anh Huỳnh Phú TU (Tý) đến để rước S cùng đi tìm tài sản lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài. Anh TU điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 53PB – 0888 đến rước S, rồi cả hai đi về hướng cầu Ngân Hàng. Khi qua dốc cầu Ngân Hàng, S nảy sinh ý định cạy cửa của cửa hàng Đại Tài nên kêu anh TU điều khiển xe về khu dân cư khóm 4, MA để lấy thanh sắt tròn của S rồi quay lại cửa hàng Đại Tài. Anh TU đậu xe gần cửa hàng Đại Tài, S đi bộ đến cửa hàng rồi dùng thanh sắt cạy khoen cửa bung ra, S mở cửa vào bên trong. Khi vào bên trong, S phát hiện một rổ nhựa bên trong có nhiều card điện thoại di động và khoảng 500.000 đồng nên lấy trộm cầm trên tay và tiếp tục đi tìm tài sản khác. Khi đến bàn sửa điện thoại, S phát hiện 01 (một) điện thoại di động Sony Z3 màu nâu, 01 (một) điện thoại di động Oppo Neo 5 và 01 (một) điện thoại di động Oppo Neo 3 màu trắng nên lấy bỏ vào túi quần. S tiếp tục tìm kiếm thì phát hiện 01 (một) điện thoại di động Nokia 6300 ở cửa buồng, lấy bỏ vào túi quần rồi đem tất cả những tài sản trộm được ra ngoài. S lên xe anh TU chở về nhà của anh TU (địa chỉ khóm 4, MA). Anh TU chia đôi số tiền vừa trộm được mỗi người được 250.000 đồng, S giữ điện thoại Nokia 6300 và lấy hai card điện thoại Vietnamobile mệnh giá 20.000 đồng và 50.000 đồng nạp vào điện thoại của mình, các tài sản còn lại để ở nhà anh TU, S về nhà của mình (địa chỉ khóm 1, MA) ngủ. Sáng ngày 27/3/2017, S đến nhà anh TU lấy số card trộm được đến tiệm tạp hóa của chị Ngô Thị Thu H (địa chỉ khóm 1, MA) để bán, khi chị H hỏi về nguồn gốc số card thì S nói là card điện thoại của anh S gửi bán dùm. Chị H kiểm tra trên mệnh giá số card tổng cộng là 4.080.000 đồng, chị đồng ý mua với giá là 3.450.000 đồng, S đồng ý bán và nhận của chị H số tiền 3.400.000 đồng, còn 50.000 đồng mua đồ sử dụng cá nhân. Số tiền 3.400.000 đồng, S đem về chia cho anh TU 1.700.000 đồng, số tiền còn lại S giữ sử dụng cá nhân. Đến chiều ngày 27/3/2017, S bị bắt thu giữ trên người số tiền 200.000 đồng và điện thoại di động Nokia 6300.
Đối với anh Huỳnh Phú TU, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở TU phát hiện nhiều card điện thoại đã sử dụng, không tìm thấy các tài sản theo lời khai của S. Qua tài liệu của Trung tâm Viettel huyện Tháp Mười và phòng bán hàng của VNPT huyện Tháp Mười đều xác định các Card điện thoại của hai mạng di động Viettel và Vinaphone tìm thấy ở nhà TU đều được sử dụng trước ngày xảy ra vụ án. TU không thừa nhận có cùng S trộm cắp tài sản ở cửa hàng Đại Tài, mà cho rằng S tự ý lấy xe của TU đi đâu và làm gì TU không biết. Hiện tại, TU không có mặt ở địa phương, không biết làm gì, ở đâu nên không làm việc được.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 24 ngày 04/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tháp Mười kết luận tại thời điểm bị mất trộm các tài sản của anh Đ trị giá như sau:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 6300 màu vàng đã qua sử dụng trị giá 350.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Sony Z3 đã qua sử dụng trị giá 2.000.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Neo 5 màu xanh trị giá 500.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Neo 3 màu trắng trị giá 400.000 đồng.
- Card điện thoại các mạng Vinaphone, Mobifone, Viettel, Vietnamobile, Gmobile trị giá: 4.150.000 đồng.
Tổng giá trị các tài sản nêu trên là 7.400.000 đồng.
Anh Cao Vũ Đ trình bày tài sản anh bị mất trộm ngoài 04 điện thoại di động như đã nêu trên, anh còn mất khoảng 7.500.000 đồng tiền card điện thoại và số tiền mặt khoảng 1.500.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra chỉ chứng minh được số tài sản mà S lấy trộm được gồm 04 điện thoại di động trị giá 3.250.000 đồng, card điện thoại trị giá 4.150.000 đồng và 500.000 đồng tiền mặt. Tổng giá trị tài sản mà S trộm được là 7.900.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Cao Vũ Đ đã nhận lại một số card điện thoại trị giá 4.080.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động Nokia 6300, số tiền Việt Nam là 200.000 đồng. Các tài sản còn lại chưa thu hồi được anh Đ không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét.
Chị Ngô Thị Thu H yêu cầu bị cáo S bồi thường cho chị số tiền đã mua card điện thoại là 3.400.000 đồng.
Về vật chứng:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tháp Mười đã tạm giữ:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 6300 màu vàng đã qua sử dụng, số tiền Việt Nam 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh S.
- 06 card điện thoại Vinaphone mệnh giá 100.000 đồng, 10 card điện thoại Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng, 13 card điện thoại Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng, 22 card điện thoại Vinaphone mệnh giá 10.000 đồng, 02 card điện thoại Mobifone mệnh giá 100.000 đồng, 08 card điện thoại Mobifone mệnh giá 50.000 đồng, 11 card điện thoại Mobifone mệnh giá 10.000 đồng, 23 card điện thoại Viettel mệnh giá 10.000 đồng, 03 card điện thoại Vietnamobile mệnh giá 50.000 đồng, 21 card điện thoại Vietnamobile mệnh giá 20.000 đồng, 29 card điện thoại Vietnamobile mệnh giá 10.000 đồng, 06 card điện thoại Gmobile mệnh giá 50.000 đồng, 20 card điện thoại Gmobile mệnh giá 20.000 đồng do chị Ngô Thị Thu H giao nộp.
Xét thấy không cần thiết tạm giữ, Cơ quan điều tra đã trao trả các tài sản trên cho anh Cao Vũ Đ.
- 01 (một) xe gắn máy biển kiểm 53PB-0888, số máy 00202678, số khung 202678 do chị Phạm Thị Ngọc M (vợ của anh Huỳnh Phú TU) giao nộp. Xe gắn máy này TU trình bày là mua của một người lạ ở ngã ba Ông Bầu (địa chỉ thị trấn MT, huyện CL), mua lúc ban đêm, xe người này chết máy nên bán cho TU với giá là 800.000 đồng, xe không có giấy tờ, lúc mua bán cũng không có hợp đồng. Qua kết quả tra cứu của Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đồng Tháp thì xe gắn máy này không có dữ liệu trong hệ thống. Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm nhưng không có người đến nhận.
- Các loại card điện thoại đã sử dụng gồm: Vinaphone mệnh giá 10.000 đồng 04 card, 20.000 đồng 01 card; Mobifone mệnh giá 10.000 đồng 03 card, 20.000 đồng 03 card; Viettel mệnh giá 20.000 đồng 03 card, 10.000 đồng 21 card thu tại nhà của Huỳnh Phú TU lúc khám xét khẩn cấp.
Đối với thanh sắt tròn mà S sử dụng để cạy cửa đột nhập, S đã ném bỏ trên đường về nhà, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm được.
Đối với Huỳnh Phú TU (Tý) hiện tại đã đi khỏi địa phương, không biết cư trú ở đâu, không làm việc được nên tách ra khỏi vụ án này, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với chị Ngô Thị Thu H lúc mua card điện thoại không biết do bị cáo S trộm cắp mà có nên không xử lý.
Tại Bản Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 14 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát huyện Tháp Mười, đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với Cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện:
Do cần có tiền tiêu xài, khoảng 01 giờ 30 phút ngày 26/3/2017, lợi dụng lúc đêm tối cửa hàng điện thoại của anh Cao Vũ Đ khóa cửa ngoài, bị cáo lén lúc đột nhập lấy trộm các tài sản gồm tiền Việt Nam, card điện thoại và 04 điện thoại di động, với tổng giá trị tài sản là 7.900.000 đồng (theo Bản Kết luận định giá tài sản số 24 ngày 04/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tháp Mười) để tiêu xài cá nhân.
Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, Viện kiểm sát huyện Tháp Mười truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 138 là hoàn toàn có căn cứ.
Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 và được sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”
Tại phiên tòa hôm nay, Vị đại diện Viện kiểm sát huyện Tháp Mười đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh S từ 12 đến 18 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử buộc bị cáo Nguyễn Minh S có trách nhiệm bồi thường cho chị Ngô Thị Thu H số tiền 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn đồng.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 228 của Bộ luật dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
- Tịch thu tiêu hủy: Các loại card điện thoại đã sử dụng (gồm Vinaphone mệnh giá 10.000 đồng 04 card, 20.000 đồng 01 card; Mobifone mệnh giá 10.000 đồng 03 card, 20.000 đồng 03 card; Viettel mệnh giá 20.000 đồng 03 card, 10.000 đồng 21 card).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe gắn máy biển kiểm soát 53PB-0888, số máy 0020678, số khung 202678 nếu hết thời hạn 01 năm kể từ ngày ra thông báo tìm chủ sở hữu tài sản mà không có người đến nhận.
Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Về tính tiết định khung hình phạt.
Xét bị cáo S có nhân thân xấu (ngày 06/10/2016, bị Ủy ban nhân dân thị trấn Mỹ An, huyện Tháp Mười ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn 03 tháng (đã chấp hành xong); ngày 20/01/2017 bị Tòa án huyện Tháp Mười ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo chưa chấp hành. Đồng thời, bị cáo có tuổi đời còn trẻ và có đủ sức khỏe để lao động, nhưng bị cáo không chịu lao động để có thu nhập cho bản thân đến khi không có tiền tiêu xài bị cáo đã lấy trộm tài sản của anh Đ, nên phạm tội. Do đó, cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải; tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, chẳng những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, cần cách ly bị cáo một thời gian nhất định, để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Cao Vũ Đ đã nhận lại số card điện thoại trị giá 4.080.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động Nokia 6300, số tiền Việt Nam là 200.000 đồng. Đối với các tài sản còn lại chưa thu hồi được, tại phiên tòa anh Đ không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét.
- Tại phiên tòa, chị Ngô Thị Thu H yêu cầu bị cáo bồi thường cho chị số tiền đã mua card điện thoại là 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn đồng). Xét yêu cầu bồi thường của chị H là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 228 của Bộ luật dân sự 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: Các loại card điện thoại đã sử dụng (gồm Vinaphone mệnh giá 10.000 đồng 04 card, 20.000 đồng 01 card; Mobifone mệnh giá 10.000 đồng 03 card, 20.000 đồng 03 card; Viettel mệnh giá 20.000 đồng 03 card, 10.000 đồng 21 card).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe gắn máy biển kiểm soát 53PB-0888, số máy 00202678, số khung 202678, nếu hết thời hạn 01 (một) năm, từ ngày 21/4/2017 đến ngày 21/4/2018, chủ sở hữu không đến nhận xe. Nếu trong thời hạn nêu trên, mà có người đến nhận lại xe thì sẽ xem xét giải quyết theo thủ tục của tố tụng dân sư.
(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/7/2017).
Đối với thanh sắt tròn mà bị cáo S sử dụng để cạy cửa đột nhập, bị cáo đã ném bỏ trên đường về nhà, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm được.
Đối với Huỳnh Phú TU (Tý) hiện tại đã đi khỏi địa phương, không biết cư trú ở đâu, không làm việc được nên tách ra khỏi vụ án này, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với chị Ngô Thị Thu H khi mua card điện thoại không biết do bị cáo S trộm cắp mà có, nên không xử lý là có căn cứ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1 - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh S (S Nhóc) đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ Luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 27/3/2017.
2 - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 357 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Minh S có trách nhiệm bồi thường tiền mua card điện thoại cho chị Ngô Thị Thu H là 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành án xong số tiền trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi bằng 50%/ mức lãi suất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3- Về vật chứng: Áp dụng Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 228 của Bộ luật dân sự 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: Các loại card điện thoại đã sử dụng (gồm Vinaphone mệnh giá 10.000 đồng 04 card, 20.000 đồng 01 card; Mobifone mệnh giá 10.000 đồng 03 card, 20.000 đồng 03 card; Viettel mệnh giá 20.000 đồng 03 card, 10.000 đồng 21 card).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe gắn máy biển kiểm soát 53PB-0888, số máy 00202678, số khung 202678, nếu hết thời hạn 01 (một) năm, từ ngày 21/4/2017 đến ngày 21/4/2018, chủ sở hữu không đến nhận xe. Nếu trong thời hạn nêu trên, mà có người đến nhận lại xe thì sẽ xem xét giải quyết theo thủ tục của tố tụng dân sư.
(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/7/2017).
4- Về án phí: Áp dụng Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Minh S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Huyện; - TAND Tỉnh; - Sở Tư pháp Tỉnh; - Nhà tạm giữ Công an Huyện; - Chi cục THADS Huyện; - Bị cáo, đương sự; - Lưu: HSVA, VP, (Thi). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thanh Tuấn |