- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ksor S phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2017/HSST Ngày: 13/12/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Lê
2. Ông Đoàn Minh Trung
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hân, kiểm sát viên.
Hồi 08 giờ 20 phút, ngày 13 tháng 12 năm 2017 tại Trụ sở TAND huyện P, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2017/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Ksor S (tên gọi khác: M), sinh năm 1995; tại tỉnh Gia Lai; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: buôn H, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Dân tộc: Jarai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Cha: Nay T, sinh năm 1964; Mẹ: Ksor H’, sinh năm 1966; Vợ: Hờ V, sinh năm 1994. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời bào chữa cho bị cáo Ksor S Luật sư Nguyễn N - Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa
* Ngƣời bị hại: Ông Phạm Ngọc H, sinh năm: 1966; Trú ở: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Y V, sinh năm 1999; Trú ở: buôn H, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.Vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/7/2017, Ksor S đi đến khu vực Đập Đồng Cam thuộc thôn P, xã H, huyện P để hái thuốc Nam. S thấy một con bò đực cao khoảng 1,57m, lông màu đen-xám-đỏ của ông Phạm Ngọc H, trú thôn P, xã H, huyện P đang cột tại khu đất trống gần đó nhưng không có người trông coi nên S đến mở dây dắt đến thôn D, xã S, huyện S để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, thì bị công an xã S phát hiện tạm giữ con bò trên. Qua làm việc Ksor S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình (BL 47-48).
Ngày 27/7/2017 Hội đồng định giá tài sản huyện P kết luận: 01 con bò đực cao 1,57m, lông màu đen-xám-đỏ có giá trị 25.270.000đ.
Tại bản Cáo trạng số: 28/VKS-HS ngày 31 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố Ksor Sới về tội“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Ksor S phạm tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự; điểm h, p khoản 1Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ksor S từ 09-12 tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18-24 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị mất là con bò, không có yêu cầu gì nên đề nghị Tòa không xét.
Về vật chứng: 01 (một) con bò đực cao khoảng 1,57m, màu lông đen, xám, đỏ đã trả cho chủ sở hữu nên đề nghị Tòa không xét.
Tại phiên tòa, Luật sư Nguyễn N bào chữa cho bị cáo Ksor S cho rằng bị cáo Ksor S là người dân tộc thiểu số, không biết chữ và nhận thức pháp luật hạn chế, sau khi phạm tội bị cáo thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên đề nghị Tòa áp dụng điểm g,h,p khoản 1 Điều 46 và Điều 31 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ksor S 01 năm cải tạo không giam giữ, không chấp nhận đề nghị của Đại diện viện kiểm sát vì mức hình phạt tù cho bị cáo Ksor S là quá nặng.
Tại phiên tòa, bị cáo Ksor S khai nhận như nội dung Cáo trạng, thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng và xin Tòa giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/7/2017, Ksor S dắt trộm một con bò đực của ông Phạm Ngọc H ở thôn P, xã H, huyện P, có giá trị 25.270.000đ.
Hành vi cố ý lén lút thực hiện việc chiếm đoạt tài sản có giá trị 25.270.000 đồng nêu trên của bị cáo Ksor S đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với bài luận cứ của Luật sư bào chữa cho bị cáo Ksor S thừa nhận hành vi của bị cáo Ksor S là phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo Ksor Sới có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Tòa xét xử bị cáo Ksor S 01 năm cải tạo không giam giữ. Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác và gây mất an ninh trật tự tại địa phương, cần phải xứ lý nghiêm mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội nên không chấp nhận đề nghị của luật sư. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Ksor S thật thà khai báo, ăn năn hối cải; nhất thời phạm tội. Hơn nữa bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo mức án phù hợp và không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mà giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người bị hại ông Phạm Ngọc H khai nhận đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Tòa không xét.
Về vật chứng: 01 (một) con bò đực cao khoảng 1,57m, màu lông đen, xám, đỏ đã trả cho chủ sở hữu nên Tòa không xét.
Về án phí: Bị cáo Ksor S phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Ksor S phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự;
+ Xử phạt bị cáo Ksor S 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Ksor S cho Uỷ ban nhân dân xã Hi, huyện P, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Ksor S thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Ksor S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo Ksor S, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Bị cáo; -Người... liên quan vắng mặt; -VKSND H.Phú Hòa; -Công an H.Phú Hòa; -TAND tỉnh Phú Yên; -Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thúy Sơn |