- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2018/HSPT Ngày : 23-5-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Kim Dung
Các Thẩm phán:
1. Bà Phùng Thị Cẩm Hồng
2. Bà Trịnh Thị Phúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thành Bông - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2018/TLPT-HS ngày 16/4/2018, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2017/HSST ngày 26/10/2017 của Toà án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
1. Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Xuân T (Tên gọi khác: B), Sinh năm 1981; Hộ khẩu thường trú: Khu phố Z, thị trấn TH, huyện TH, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Sửa điện tử; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Xuân H (sinh năm 1944) và bà Hồ Thị L (sinh năm 1956); Vợ: Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1987), có 01 con sinh năm 2016; Tiền sự: không; Tiền án: Không.
Nhân thân: Ngày 27/5/1998, bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án số 07/HSST. Ngày 15/6/1999, bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án số 13/HSST. Bị cáo đã chấp hành hình phạt xong.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Những người tham gia tố tụng khác không được triệu tập:
- Bị hại: Bà Huỳnh Thị X, sinh năm 1953; địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Phùng Tấn Đ, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
2. Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
3. Thái Phăn S, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Xuân T và Phùng Tấn Đ là bạn bè quen biết với nhau. Vào tháng 10 năm 2016, Phùng Tấn Đ vay của Nguyễn Xuân T và viết giấy nợ với số tiền là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng). Khi đến hạn trả nợ T nhiều lần yêu cầu Đ trả tiền nợ cho T nhưng Đ không trả tiền. Việc Đ thiếu nợ T, bà Huỳnh Thị X là mẹ ruột của Phùng Tấn Đ biết. Khoảng 17 giờ ngày 12/3/2017, T gặp bà X tại chợ TN, T kêu bà X về nhà cho T lấy tài sản để trừ tiền nợ của Đ, bà X không đồng ý. Khoảng 19 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH Mode mang biển số kiểm soát 62F1- 091.72 do Nguyễn Thị H1 là vợ của T làm chủ sở hữu, chở Hoàng Thanh P đi đến nhà Huỳnh Thị X để lấy tiền nợ của Đ. Khi đi T nói với P là đi lấy tiền nợ. Khi đến nhà bà X, T gọi cửa nhưng không có người ở trong nhà. T thấy cửa bị khóa nên đi ra trước sân nhặt một cục gạch ống đập cửa kính để mở khóa. P thấy vậy, nên can ngăn không cho T đập phá cửa nhà bà X. T liền xô đẩy P ra. T đi đến cánh cửa nhà bà X dùng cục gạch ống trên tay đập mạnh vào khung cửa kính gần ổ khóa làm cho khung cửa kính bị bể một lỗ trống. T đưa tay vào trong mở khóa cửa đi vào trong nhà bà X. Sau đó, T mang 01 (một) tivi 32inch hiệu Samsung và 01 (một) tủ lạnh Aqua molde AQR145AN từ trong nhà bà X ra ngoài đường. Lúc này, Thái Phăn S, điều khiển xe mô tô chạy ngang qua nên T nhờ S chở ti vi về nhà T, còn T dùng xe mô tô của mình chở tủ lạnh đem về nhà. Khi bà X về nhà phát hiện cửa nhà bị đập và tài sản bị lấy trộm nên báo Công an thị trấn TH. Tại Công an, T đã giao nộp toàn bộ tài sản lấy của bà X.
Tại bản kết luận định giá tài sản, số: 37/KL.PTCKH ngày 24/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Thạnh Hóa, kết luận: 01 (một) tivi 32inch Samsung có giá trị là 7.160.000 đồng; 01 (một) tủ lạnh Aqua molde AQR145AN có giá trị là 3.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 10.760.000 đồng.
Tại công văn số 70/CV.HĐĐG ngày 03/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện TH kết luận, không có cơ sở xác định được giá trị tài sản thiệt hại của cửa kính bị vỡ.
Khám nghiệm hiện trường Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Hóa đã thu giữ tang vật của vụ án gồm một số mảnh thủy tinh và mảnh gạch vỡ; 01 (một) viên gạch ống. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TH đã trả lại cho bà X 01 (một) tivi 32inch hiệu Samsung ; 01 (một) tủ lạnh Aqua molde AQR145AN.
Xe mô tô mang biển số kiểm sóat 62 F1- 091.72 đã được trả cho chủ sở hữu Nguyễn Thị H1.
Tại bản án hình sự sơ thẩm: 22/2017/HSST ngày 26/10/2017 của Toà án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1, Điều 138; Điều 33; điểm p, khoản 1 điều 46 BLHS;
Tuyên xử:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ khi bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí; xử lý tang vật; quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Ngày 31/10/2017, bị cáo Nguyễn Xuân T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo Nguyễn Xuân T thừa nhận đã thực hiện hành vi đúng như bản án sơ thẩm nêu. Bị cáo xác định bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu:
Hành vi của bị cáo T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng, không oan. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có bổ sung tình tiết hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ, vợ đang mang thai, có đơn xin bãi nại của bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Tuy nhiên, xét tính chất hành vi của bị cáo quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung: Vào tháng 10 năm 2016, Phùng Tấn Đ vay của Nguyễn Xuân T với số tiền là 13.000.000 đồng. Khi đến hạn trả nợ T nhiều lần yêu cầu Đ trả tiền nợ cho T nhưng Đ không trả tiền. Khoảng 19 giờ ngày 12/3/2017, T điều khiển xe mô tô chở Hoàng Thanh P đi đến nhà Huỳnh Thị X (mẹ của Đ) để lấy tiền nợ của Đ. Khi đi T nói với P là đi lấy tiền nợ. Khi đến nhà bà X, T gọi cửa nhưng không có người ở trong nhà, thấy cửa bị khóa nên nhặt một cục gạch ống đập cửa kính để mở khóa. Sau đó, T lấy 01 tivi 32inch hiệu Samsung và 01 tủ lạnh Aqua molde AQR145AN của nhà bà X về nhà. Tổng giá trị tài sản là 10.760.000 đồng.
[2] Bị cáo chiếm đoạt tài sản của bà Huỳnh Thị X trong khi không có mặt bà thỏa mãn dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản. Đó là hành vi được coi là lén lút đối với người chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản. Mặc dù bị cáo công khai lấy đồ của bà X, trước sự chứng kiến của nhiều người nhưng trên thực tế những người chứng kiến không phải người quản lý tài sản.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nên bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật, không oan. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 09 tháng tù là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[3] Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có bổ sung tình tiết hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ, vợ đang mang thai, có đơn xin bãi nại của bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Hơn nữa, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ việc bức xúc trước thái độ chây ì, không chịu trả nợ của Đ, việc bà X là mẹ của Đ có ký tên trong biên nhận nợ đồng ý giao tài sản nếu Đ không trả tiền cho bị cáo khiến bị cáo ngộ nhận là bà X sẽ trả nợ thay cho Đ. Vì vậy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần án sơ thẩm về hình phạt.
[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2017/HSST ngày 26/10/2017 của Toà án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1, Điều 138; Điều 33; điểm p, khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[2] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TANDCC tại TP.HCM (1); - VKSNDCC tại TP.HCM (1); - VKSND tỉnh Long An (1); - STP tỉnh Long An (1); - TAND huyện (2); - VKSND huyện (1); - Chi cục THADS huyện (1); - Bị cáo (1); - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Kim Dung |