- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tïyên bố: Các bị cáo Lê Qïốc B (tên áọi kâác: B Nâóc: B Tâái Tử),
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 366/2017/HSST Ngày: 22/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Thẩm phán: Ông Phan Thanh Nguyễn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tùng.
2. Ông Trần Huỳnh
3. Ông Nguyễn Thành Châu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Trọng Hưng là cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Lệ Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 22/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 390/2017/HSST ngày 19/7/2017, đối với các bị cáo:
1. Lê Quốc B (tên gọi khác: B Nhóc, B Thái Tử); giới tính Nam; sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; ĐKNKTT: 256/23/01 (số mới 958/55) L, Phường X, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: không có nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Lê Văn Sang và bà Phạm Thị Ánh Tuyết; Vợ, con: chưa có; Tiền sự: không;
- Tiền án: Ngày 19/4/2012, bị Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh bắt tạm giam về các tội “Giao cấu với trẻ em” và “Trộm cắp tài sản”. Ngày 20/8/2012, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử tuyên phạt 04 năm 6 tháng tù về 02 tội nêu trên tại bản án số 216/2012/HSST. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2012. Đến ngày 19/12/2015, chấp hành xong hình phạt tù.
- Nhân thân: Ngày 07/12/2006, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản” (bản án số 1636/2006/HSST). Ngày 29/11/2009, chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 09/6/2016, có hành vi cùng đồng bọn “Trộm cắp tài sản” tại nhà không số tổ 7, ấp R, xã V, huyện Bình Chánh. Ngày 09/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 72/2017/HSST.
- Bị bắt tạm giam từ ngày 21/6/2016 (có mặt)
2. Lê Hoàng Thế A; giới tính: Nam; sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ
Chí Minh; ĐKNKTT và chỗ ở: 958/6 L, Phường X, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông Lê Công Dũng (chết) và bà Nguyễn Thị Hằng Hoa; Vợ, con: chưa có;
- Tiền án, tiền sự: không;
- Nhân thân: Ngày 21/9/2010, bị Tòa án quận Tân Bình, Thành phố Hồ
Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại bản án số 215/2010/HSST; Ngày 30/8/2011, chấp hành xong bản án. Tháng 12/2013 đến tháng 12/2015, bị đưa đi cai nghiện ma túy tại Trường 1, tỉnh ĐắkNông.
- Bị bắt tạm giam từ ngày 12/6/2016 (có mặt).
3. Nguyễn Văn Nhất T (tên gọi khác: T Bi, S); giới tính: Nam; sinh
năm 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh; ĐKNKTT: 19 T, phường N, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 12/9 Đ, phường N, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn Nhất (chết) và bà Vũ Thị Cúc (chết); Vợ: Võ Thị Đẹp; Con: có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không.
- Nhân thân: Ngày 17/8/2000, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình,
Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “”. Ngày 30/4/2001, chấp hành xong bản án
- Bị bắt tạm giam từ ngày 01/10/2016 (có mặt).
4. Đặng Ngọc V (tên gọi khác: V Tướng); giới tính Nam; sinh năm 1978
tại Thành phố Hồ Chí Minh; ĐKNKTT: 55/10 P (số cũ 24/22 Bành Văn Trân), Phường Y, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không có nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; con ông Đặng Nguyên (chết) và bà Nguyễn Thị Lẫy; Vợ, con: chưa có;
- Tiền án, tiền sự: không:
- Nhân thân: Ngày 02/4/1998, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình,
Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 39 tháng tù về các tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 08/10/1997 (tại bản án số 86/HSST); Ngày 08/4/2000, chấp hành xong bản án. Ngày 16/01/2002, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2001 (tại bản án số 30/HSST); Ngày 05/01/2004, chấp hành xong bản án. Ngày 25/7/2005, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2005 (tại bản án số 110/2005/HSST); Ngày 02/4/2008, chấp hành xong bản án. Ngày 07/9/2010, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2009 (tại bản án số 202/2010/HSST); Ngày 28/01/2013, chấp hành xong bản án. Ngày 06/11/2013, bị đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc tại Trường số 1- ĐăkNông và Trung tâm cai nghiện Bố Lá; Đến ngày 06/11/2015, tái hòa nhập cộng đồng.
- Bị bắt tạm giam từ ngày 14/10/2016
Những người tham gia tố tụng khác:
+Người bị hại:
1. Ông Văn Anh Hoàng N, sinh năm 1975; Trú tại: 781/13/14 L, Phường Z, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Bà Nguyễn Thị Cẩm Q, sinh năm 1989; ĐKNKTT: 126 tổ 5, ấp 4, R, Cần Đước, tỉnh Long An; Chỗ ở: 1600/83 K, Phường U, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
3. Anh Phạm Hiệp H, sinh năm 1984 (vắng mặt).
4. Bà Phạm Thị Thúy C (vắng mặt).
Cùng ĐKNKTT: A, phường G, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở: 9/10 Kênh 19/5, phường S, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Bà Đặng Thị Â, sinh năm 1964; Trú tại: 25/18/11/14 M, phường I, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
6. Bà Bùi Thị Kim K, sinh năm 1960; Trú tại: Phòng C7, số 118/33 H, phường B, Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
7. Bà Nguyễn Thị Xuân X, sinh năm 1953; Trú tại: 263/14A Q, phường C, Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
+Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Hằng O, sinh năm 1970; Trú tại: 958/6 L, Phường X, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Anh Lê Quốc Q, sinh năm 1987; ĐKNKTT: 256/23/01 (số mới 958/55) L, Phường X, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 373/152/421 F, Phường X, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
+Người bào chữa:
1. Bà Lê Thị Ngọc Nhã – Luật sư văn phòng Luật sư Trịnh Bá Thân
thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng Thế Anh (có mặt).
2. Ông Hồ Hoài Nhân – Luật sư của Công ty Luật TNHH Tâm Quang
thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Lê Quốc Bảo (có mặt).
2. Luật sư Nguyễn Văn Tài – Luật sư văn phòng Luật sư Quốc Anh
thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn Nhất Tâm và Đặng Ngọc Vũ (có mặt).
NHẬN THẤY
Các bị cáo Lê Quốc B, Lê Hoàng Thế A, Nguyễn Văn Nhất T và Đặng
Ngọc V Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 10/6/2016, Lê Quốc B điều khiển xe mô tô Honda AirBlade biển số 51L6-4850 chở Hồ Thị Thu Ng (là người sống chung với B như vợ chồng) đi chơi và ăn tối. Lúc đi vào hẻm 781 L, Phường Z, Quận Tân Bình, B phát hiện nhà số 781/13/14 L khóa cửa ngoài, chủ nhà đi vắng nên B dừng lại quan sát và nảy sinh ý trộm cắp tài sản. Sau đó, B chở Ng về nhà rồi điện thoại cho Lê Hoàng Thế A báo có điểm để trộm cắp tài sản và rủ Thế A cùng thực hiện. Thế A đề nghị rủ thêm Nguyễn Văn Nhất T và Đặng Ngọc V cùng tham gia. B đồng ý và hẹn gặp nhau tại tiệm game bắn cá tại số 665 Â, phường D, quận Tân Phú. Một lúc sau, Thế A chở T cùng với V chạy xe một mình đến điểm hẹn đón B cùng đi trộm cắp tài sản.
Lúc 22h37’ cùng ngày, Thế A điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 59P2-314.49 chở T cùng Đặng Ngọc V điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius (không rõ biển số) chở B đến địa chỉ 781/13/14 L, Phường Z, quận Tân Bình để trộm cắp tài sản. Đến nơi, V và Thế A đậu xe mô tô bên ngoài để cảnh giới, còn B và T đi bộ đến trước cổng nhà số 781/13/14. Sau đó, B dùng đoản và dụng cụ mở khóa mang theo, mở khóa cửa cổng rồi cùng T đi vào trong nhà lục tìm tài sản. B đi lên lầu 01 phát hiện có 01 két sắt hiệu Daysafe màu xám, kích thước khoảng 50cm x 50cm x 50cm để bên cạnh tủ quần áo. B gọi T đi lên lầu 01 lấy tấm vải màu xanh phủ lên két sắt rồi cùng T khiêng két sắt xuống dưới nhà và đưa ra ngoài để lên xe mô tô của Thế A đang chờ sẵn. Thế A điều khiển xe mô tô biển số 59P2-314.49 chở két sắt, T ngồi sau xe giữ két sắt, còn V chở B cùng nhau chạy về nhà của T tại số 12/9 Đ, phường N, quận Tân Phú. Tại đây, Thế A, V, T và B cùng nhau dùng xà beng bằng sắt dài khoảng 60cm thay nhau đục, mở cửa két sắt, thấy bên trong két sắt có: 96 lượng vàng SJC (95 lượng vàng SJC loại 01 lượng/01 miếng, 01 miếng vàng 05 chỉ, 02 miếng vàng 02 chỉ và 01 miếng vàng 01 chỉ), 20.000.000 đồng (loại tiền mệnh giá 500.000 đồng), khoảng 1.000.000 đồng (loại tiền mệnh giá 10.000 đồng và 20.000 đồng), 08 tờ 02 USD, một số vàng nữ trang và một số giấy tờ. V và T bỏ toàn bộ tài sản lấy được vào một cái túi ni-long rồi cùng nhau đi đến thuê phòng 304 khách sạn E – số 35/5 Ô, Phường K, Quận 10 để chia tài sản. Thế A và B chở két sắt đến ném bỏ tại khu vực nghĩa trang Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân rồi quay về khách sạn E (bút lục 458).
Tại khách sạn, Thế A, B, T và V cùng kiểm đếm tài sản trộm cắp được và thỏa thuận chia đều cho 04 người như sau: Thế A được chia 24 lượng vàng SJC, 5.250.000 đồng và 02 tờ 02 USD; B được chia 24 lượng vàng SJC và 1 miếng vàng 2 chỉ, 5.250.000 đồng và 02 tờ 02 USD; T được chia 24 lượng vàng SJC, 5.250.000 đồng và 02 tờ 02 USD nhưng do nhầm lẫn nên thực tế T chỉ lấy 23,6 lượng vàng SJC (do có 04 chỉ vàng bị chia nhầm cho B 02 chỉ và 02 chỉ còn lại lẫn vào số vàng nữ trang); V được chia 24 lượng vàng SJC, 5.250.000 đồng và 02 tờ 02 USD.
Số vàng nữ trang giao cho V giữ để bán lấy tiền chia nhau sau. Ngày 11/6/2016, B và V bán số vàng nữ trang cho một người chưa rõ lai lịch tại Quận 8 được 6.000.000 đồng, chia đều cho V, T và B mỗi người 02 triệu đồng, còn Thế A không được chia. Riêng số giấy tờ B đã vứt bỏ nhưng không nhớ vứt ở đâu.
Vào khoảng 24h00 phút ngày 11/6/2016, anh Văn Anh Hoàng N (chủ nhà số 781/13/14 L, phường Z, quận Tân Bình) đi về đến nhà phát hiện bị trộm đột nhập nên kiểm tra camera nhà đối diện (nhà số 781/13/5 L) ghi nhận lại hình ảnh các đối tượng đột nhập vào nhà anh N lấy trộm két sắt. Đến 00 giờ 35 phút ngày 11/6/2017, anh N đến Công an phường Z, Quận Tân Bình trình báo sự việc.
Qua truy xét, ngày 12 và 21/6/2016, ngày 01 và 07/10/2016, Thế A, B, T và V lần lượt bị bắt giữ. Tại Cơ quan điều tra các bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, B khai nhận ngoài thực hiện vụ trộm cắp nêu trên, trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 6/2016, B còn thực hiện 5 vụ trộm cắp tài sản khác tại địa bàn các phường B, C và I của quận Tân Phú, cụ thể như sau:
Vụ thứ 1: Khoảng ngày 18/4/2016, B đi bộ ngang qua dãy phòng trọ địa chỉ 86/32 J, phường I, quận Tân Phú thì phát hiện phòng trọ số 2 của chị Nguyễn Thị Cẩm Q khóa cửa ngoài nên B dùng mỏ lết mang theo bẻ gãy khoen cửa, đột nhập vào trong nhà lấy được một laptop hiệu Dell Vostro 3400-DV4-021. B mang laptop đến chợ Tân Thành, Quận 5 bán cho người đàn ông (không rõ lai lịch) được số tiền 1.500.000 đồng, rồi tiêu xài hết. Ngày 21/6/2016, chị Q đến Công an phường I tường trình sự việc.
Vụ thứ 2: Vào trưa ngày 25/4/2016, B điều khiển xe máy Wave màu đen (không rõ biển số) chạy trong khu vực phường B, Quận Tân Phú phát hiện phòng trọ số 7 nhà 1/8B D, phường B, Tân Phú của ông Phạm Hiệp H khóa cửa ngoài. Bảo dừng xe lại và lấy mỏ-lết mang theo bẻ gãy khoen cửa, đột nhập vào trong nhà lấy được 01 tivi màn hình phẳng hiệu Samsung Led 32inch. Sau đó, mang bán cho người đàn ông (không rõ lai lịch) thu mua đồ cũ tại trước nhà số 780 Â, Phường 14, quận Tân Bình được 2.000.000 đồng và tiêu xài hết. Khoảng 13 giờ cùng ngày, ông H về đến phòng trọ phát hiện bị mất tài sản nên đến Công an phường trình báo vụ việc.
Vụ thứ 3: Khoảng 14h00’ ngày 29/5/2016, do không có tiền tiêu xài
nên B đi bộ tìm nhà có tài sản sơ hở để trộm cắp. B phát hiện nhà số 25/18/11/14 M, phường I, quận Tân Phú của bà Đặng Thị Â khóa cửa ngoài nên dùng mỏ-lết mang theo bẻ khoen cửa, đột nhập vào trong nhà dùng đoản bẻ ổ khóa công tắc của chiếc xe mô tô hiệu Honda Air Blade biển số 59D1-564.37. Sau đó, B chạy xe mô tô này đến chợ Ông Địa, Phường X, quận Tân Bình lấy biển số 51L6-4850 cất giấu sẵn tại đây thay thế cho biển số 59D1-564.37 để sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngoài ra, B còn lấy được 8.000.000 đồng trong “cốp” xe máy. Đến khoảng 15h00’ cùng ngày, bà Â về đến nhà phát hiện bị mất trộm đã đến Công an phường trình báo vụ việc.
Vụ thứ 4: Vào một ngày của tháng 5/2016, B đi bộ tại khu vực phường
B, quận Tân Phú, tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Bảo phát hiện phòng trọ C7 nhà số 118/33 H, phường B, quận Tân Phú của bà Bùi Thị Kim K khóa cửa ngoài nên dùng mỏ lết bẻ gãy khoen cửa, đột nhập vào trong nhà lục tìm tài sản lấy được số tiền 500.000 đồng (gồm các tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 20.000 đồng) trong tủ quần áo. Do tài sản bị mất có giá trị không lớn nên bà K không trình báo. Ngày 21/6/2016, bà K đến Công an phường B, quận Tân Phú tường trình sự việc.
Vụ thứ 5: Khoảng 11h00’ ngày 16/6/2016, B đi bộ tại khu vực phường
C, quận Tân Phú, phát hiện nhà số 263/14A Q, phường C, Tân Phú của bà Nguyễn Thị Xuân X khóa cửa ngoài, nên dùng mỏ lết bẻ gãy khoen cửa, đột nhập vào trong nhà lấy được một xe mô tô hiệu Honđa SDH125T màu đen, biển số 54P2-2714. Sau đó, B chạy xe này đến chợ Tân Thành, Quận 5 bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) được số tiền 2.000.000 đồng và tiêu xài hết. Đến khoảng 18h00’ cùng ngày, bà X phát hiện bị mất trộm xe máy nên đến Công an phường trình báo sự việc.
* Vật chứng thu giữ được:
1. Thu giữ của anh Văn Anh Hoàng N: 01( một) USB màu xanh hiệu
Kingstar 2GB chứa file ghi hình ảnh các bị can thực hiện hành vi đột nhập vào nhà anh N trộm cắp tài sản (lưu giữ trong hồ sơ); 01 (một) bóp giả da màu đen, có chữ NGHĨA; 01 (một) túi xách giả da, màu nâu, có hoa văn; 01 (một) ổ khóa màu vàng; 07 (bảy) cái đoản bằng kim loại dùng để mở khóa; 07 (bảy) dụng cụ có hình chìa khóa bằng kim loại dùng để mở khóa; 01 (một) bóp giả da màu đen.
2. Thu giữ của Lê Hoàng Thế A: 01 (một) két sắt hiệu Daysafe màu
xám, cửa màu đồng, cửa két bị tháo rời (tại Kết luận định giá tài sản số 581/STC-HĐĐGTS-BVG ngày 19/01/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự cấp thành phố kết luận như sau: Từ chối định giá đối với tài sản thẩm định là Két sắt hiệu Daysafe do không xác định các thông số kỹ thuật của tài sản nên không đủ cơ sở để tiến hành định giá theo quy định tại điểm c, Khoản 1, Điều 8, Chương II của Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 của Chính phủ về Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự); 01 (một) cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 60cm (thu giữ tại nhà của Nguyễn Văn Nhất T); 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số:
59P2-314.49,
số
máy:
G3D4E-184738;
số
khung: RLCUG0610FY171878. Qua xác minh được biết: xe mô tô biển số 59P2-314.49 do bà Nguyễn Thị Hằng O (mẹ của bị can Thế A) đứng tên sở hữu. Bà O mua trả góp chiếc xe mô tô vào tháng 5/2016. Ngày 10/6/2016, bà O giao chiếc xe này cho Thế A làm phương tiện đi lại. Bà O không biết sự việc Thế A dùng xe này làm phương tiện cùng đồng bọn trộm cắp tài sản.
3. Thu giữ của Lê Quốc B: 01 (một) kìm cộng lực dài khoảng 60 cm; 01 (một) mỏ-lết dài khoảng 30 cm; 01 (một) thanh sắt hình chữ L dài khoảng 20 cm; 01 (một) kìm hiệu MEINFA, dài khoảng 16cm, cán màu đỏ; 02 (hai) thân đoản hình chữ L; 05 (năm) đầu đoản, một đầu hình lục giác, một đầu có hình dẹt; 13 (mười ba) dụng cụ bằng kim loại dùng để mở ổ khóa; 01 (một) tuýp sắt dài khoảng 15 cm; 01 (một) ổ khóa có số VM16228, màu vàng; 01 (một) ổ khóa có chữ EXTRA, màu trắng; 01 (một) điện thoại di động Samsung, số Imei: 358068/05/406527/6; 01 (một) điện thoại Nokia, số Imei: 354308/03/116049/1.
* Vật chứng vụ thứ 3:
- 01 (một) ổ khóa Solex màu vàng và 04 chìa khóa màu trắng (do bà Vân giao nộp).
- 01(một) xe mô tô Honda Air Blade, biển số 51L6-4850, số máy 5VT136259, số khung VYA-J5VT14YA-036259 (thu giữ của B). Qua xác minh được biết: xe mô tô trên có biển số 59D1-564.37, do bà Đặng Thị  là chủ sở hữu. Ngày 19/7/2016, Công an quận Tân Phú đã trả lại cho bà  (bút lục 721). Riêng biển số xe 51L6-4850, qua xác minh được biết là của xe mô tô có số máy 008280-FMHA, số khung 61007850-CX do Nguyễn Thanh  (ngụ: 126/26 B, Phường L, Quận 8) đứng tên chủ sở hữu. Bà Thanh  khai đã bán xe mô tô biển số 51L6-4850 cho người khác bằng giấy tay (không rõ lai lịch người mua) nên không biết về biển số xe 51L6-4850 (bút lục 757). Cơ quan CSĐT đã ra thông báo tìm người mua xe này để ghi lời khai làm rõ nhưng đến nay chưa có kết quả.
Tại Kết luận định giá tài sản số 175/HĐĐGTS-TTHS ngày 01/7/2016 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự quận Tân Phú kết luận: Tại thời điểm ngày 29/5/2016: 01 (một) xe hai bánh gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 59D1-564.37 màu trắng - đỏ - đen (số khung: DY-524522, số máy: 46E-4048542) do Việt Nam sản xuất, đã qua sử dụng, tỷ lệ còn lại 80%. Trị giá 30.000.000 đồng (bút lục 705).
* Vật chứng vụ thứ 5:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honđa SDH125T màu đen, biển số 54P2-2714
(không thu hồi được). Tại kết luận định giá tài sản số 175/HĐĐGTS-TTHS ngày 01/7/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Tân Phú kết luận: Tại thời điểm ngày 16/6/2016: 01 (một) xe hai bánh gắn máy hiệu Honda SDH125T, biển số 54P2-2741, màu đen, số khung: N0741055647, số máy: B-41016175, đã qua sử dụng, tỷ lệ còn lại 50%. Trị giá: 5.000.000 đồng (bút lục 705).
Tại Cơ quan điều tra, các bị hại gồm: chị Nguyễn Thị Cẩm Q (vụ thứ
1), anh Phạm Hiệp H (vụ thứ 2), bà Đặng Thị Â (vụ thứ 3), bà Bùi Thị Kim K (vụ thứ 4) và bà Nguyễn Thị Xuân X (vụ thứ 5) đã khai bị trộm cắp tài sản phù hợp với lời khai của B và vật chứng thu giữ trong vụ án. Do vậy, đủ cơ sở xác định B đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Về dân sự: anh Văn Anh Hoàng N yêu cầu bồi thường số tiền
2.555.000.000 đồng (bút lục 479). Hiện B đã khắc phục 90.000.000 đồng, Thế A trả lại 24 lượng vàng SJC được chia trong vụ án. Riêng bị can T và V chưa bồi thường.
Các bị hại trong 05 vụ án mà bị cáo B thực hiện yêu cầu như sau:
1. Bà Nguyễn Thị Cẩm Q yêu cầu bồi thường 4.000.0000 đồng.
2. Ông Phạm Hiệp H yêu cầu bồi thường số tiền 5.909.0000 đồng.
3. Bà Đặng Thị Â có đơn yêu cầu bồi thường 8.000.0000 đồng.
4. Bà Bùi Thị Kim K có đơn không yêu cầu bồi thường.
5. Bà Nguyễn Thị Xuân X yêu cầu bồi thường 5.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 275/CT-VKS-P2 ngày 03/7/2017, Viện kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Lê Quốc B, Lê Hoàng Thế A, Nguyễn Văn Nhất T và Đặng Ngọc V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a Khoản 4 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố,
đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như vai trò của từng bị cáo trong vụ án và đề nghị xử phạt các bị cáo:
+Lê Quốc B mức án từ 18 năm đến 20 năm tù; tổng hợp với hình phạt
18 tháng tù tại bản án số ngày của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
+Lê Hoàng Thế A từ 14 năm đến 16 năm tù.
+Nguyễn Văn Nhất T từ 16 năm đến 18 năm tù.
+Đặng Ngọc V từ 16 năm đến 18 năm tù.
Ngoài ra, còn đề nghị về trách nhiệm dân sự của các bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật
Bào câữa câo các bị cáo, các æïật íư tâốná nâất với qïan điểm trïy tố của Viện kiểm íát về tội danâ và kâïná âìnâ pâạt nên kâôná tranâ æïận. Các æïật íư câỉ pâân tícâ về nâân tâân, các tìnâ tiết áiảm nâẹ cũná nâư vai trò của các bị cáo troná vụ án để đề náâị áiảm nâẹ câo từná bị cáo một pâần âìnâ pâạt dưới mức đề náâị của đại diện Viện kiểm íát, cụ tâể:
Lïật íư bào câữa câo bị cáo B câỉ đề náâị Hội đồná xét xử xem xét các bị cáo có íự pâân côná nâưná pâạm tội kâôná có tổ câức tâeo qïy địnâ tại điểm a kâoản 1 Điềï 48 Bộ æïật âìnâ íự. Bị cáo B có âoàn cảnâ áia đìnâ kâó kâăn, trìnâ độ âọc vấn tâấp nên nâận tâức pâáp æïật có pâần âạn câế; đã kâắc pâục một pâần tâiệt âại về tài íản và tại pâiên tòa tự náïyện bồi tâườná pâần còn æại câo náười bị âại.
Lïật íư bào câữa câo bị cáo Tâế A đề náâị xem xét bị cáo pâạm tội với vai trò cảnâ áiới, tâànâ kâẩn kâai báo tícâ cực áiúp Cơ qïan điềï tra nâanâ câóná pâá án và đã áiao nộp toàn bộ íố tiền âưởná æợi để kâắc pâục câo náười bị âại.
Lïật íư bào câữa câo bị cáo T đề náâị xem xét bị cáo có âoàn cảnâ áia đìnâ kâó kâăn, con còn nâỏ về kinâ tế, pâạm tội do bị rủ rê, æôi kéo và tại pâiên tòa tự náïyện bồi tâườná, kâắc pâục toàn bộ tâiệt âại về tài íản câo náười bị âại.
Các bị cáo B, Thế A, T và V không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại Văn Anh Hoàng N đề nghị xét xử nghiêm đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và người bị hại.
XÉT THẤY
Do bị cáo Đặng Ngọc V bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có mức cao nhất của khung hình phạt là chung thân nhưng bị cáo không có người bào chữa nên theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015; của Quốc hội hướng dẫn thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015; Tòa án đã yêu cầu Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh cử luật sư Nguyễn Văn Tài bào chữa chỉ định cho bị cáo V. Tại phiên tòa, bị cáo V từ chối luật sư bào chữa để tự mình thực hiện quyền bào chữa là quyền tự định đoạt, quyết định của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật tại các Điều 50 và 57 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận.
Sau khi kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung
đính chính lại số liệu do cộng chưa đúng về số tiền tổng giá trị tài sản chiếm đoạt trong vụ bị cáo Lê Quốc B cùng đồng phạm thực hiện tại phần kết luận của cáo trạng, là phù hợp: với quy định tại Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự; với hành vi khách quan của các bị cáo, các kết luận định giá tài sản đã viện dẫn trong phần nội dung, không làm thay đổi bản chất của vụ án và các bị cáo đồng ý không có ý kiến; nên được chấp nhận.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Quốc B, Lê Hoàng Thế A, Nguyễn Văn Nhất
T và Đặng Ngọc V đã khai nhận toàn bộ âànâ vi pâạm tội của mìnâ cùná đồná pâạm, nội dïná pâù âợp với bản cáo trạná của Viện kiểm íát trïy tố; cụ tâể các bị cáo kâai nâận:
Do kâôná có náâề náâiệp, mïốn có tiền tiêï xài và câơi bắn cá nên bị
cáo Lê Qïốc B đã tìm kiếm địa điểm, câïẩn bị côná cụ pâạm tội (đoản và dụná cụ mở, pâá kâỏa cửa) rồi rủ rê cùná các bị cáo Lê Hoàná Tâế A, Náïyễn Văn Nâất T và Đặná Náọc V cùná nâaï æợi dụná íự câủ íở âữï đi vắná nâà, íơ âở troná việc qïản æý tài íản để các bị cáo Tâế A và V đứná náoài cảnâ áiới, còn bị cáo B dùng đoản và dụng cụ mở khóa mang theo phá, mở khóa cửa cổng rồi cùng bị cáo T đột nhập vào nhà 781/13/14 L, Phường Z, quận Tân Bình lén lút bí mật chiếm đoạt của anh Văn Anh Hoàng N 01 két sắt hiệu Daysafe màu xám (kích thước khoảng 50cm x 50cm x 50cm), bên trong có: 96 lượng vàng SJC (95 lượng vàng SJC loại 01 lượng/01 miếng, 01 miếng vàng 05 chỉ, 02 miếng vàng 02 chỉ và 01 miếng vàng 01 chỉ), 20.000.000 đồng (loại tiền mệnh giá 500.000 đồng), khoảng 1.000.000 đồng (loại tiền mệnh giá 10.000 đồng và 20.000 đồng), 08 tờ 02 USD, một số vàng nữ trang và một số giấy tờ.
Sau khi cả bọn cùng kiểm đếm tài sản trộm cắp được và thỏa thuận
chia đều cho 04 người: V, T, Thế A được chia mỗi người 24 lượng vàng SJC, 5.250.000 đồng và 02 tờ 02 USD; B được chia 24 lượng vàng SJC và 1 miếng vàng 2 chỉ, 5.250.000 đồng và 02 tờ 02 USD. Nhưng do nhầm lẫn nên thực tế T chỉ lấy 23,6 lượng vàng SJC (do có 04 chỉ vàng bị chia nhầm cho B 02 chỉ và 02 chỉ còn lại lẫn vào số vàng nữ trang).
Số vàng nữ trang giao cho V giữ để bán lấy tiền chia nhau sau. Đến
ngày 11/6/2016, B và V bán số vàng nữ trang cho một người không rõ lai lịch tại Quận 8 được 6.000.000 đồng, chia đều cho V, T và B mỗi người hai triệu đồng, còn Thế A không được chia. Riêng số giấy tờ B đã vứt bỏ nhưng không nhớ vứt ở đâu.
Ngoài ra, bị cáo Lê Quốc B trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 6/2016, còn một mình chuẩn bị công cụ phạm tội (dụng cụ phá, mở khóa cửa, đoản phá khóa xe máy) đi tìm kiếm nhà khóa cửa, vắng chủ nhà để phá khóa cửa đột nhập vào nhà lén lút, bí mật thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn các phường B, C và I của quận Tân Phú mang bán cho các đối tượng không rõ lai lịch lấy tiền tiêu xài; cụ thể như sau:
Vụ thứ 1: Khoảng ngày 18/4/2016, B dùng mỏ lết mang theo bẻ gãy khoen cửa, đột nhập vào phòng trọ số 2 nhà 86/32 J, phường I, quận Tân Phú của chị Nguyễn Thị Cẩm Q chiếm đoạt một laptop hiệu Dell Vostro 3400-DV4-021.
Vụ thứ 2: Vào trưa ngày 25/4/2016, B dùng mỏ-lết mang theo bẻ gãy khoen cửa, đột nhập vào trong phòng trọ số 7 nhà 1/8B D, phường B, Tân Phú của ông Phạm Hiệp H chiếm đoạt 01 tivi màn hình phẳng hiệu Samsung Led 32inch.
Vụ thứ 3: Khoảng 14h00’ ngày 29/5/2016, B dùng mỏ-lết mang theo bẻ khoen cửa, đột nhập vào nhà số 25/18/11/14 M, phường I, quận Tân Phú của bà Đặng Thị Â, dùng đoản bẻ ổ khóa công tắc của xe mô tô hiệu Honda Air Blade biển số 59D1-564.37 để chiếm đoạt chiếc xe (bên trong cốp xe có 8.000.000 đồng).
Vụ thứ 4: Vào một ngày của tháng 5/2016, B dùng mỏ lết bẻ gãy khoen cửa, đột nhập vào phòng trọ C7 nhà số 118/33 H, phường B, quận Tân Phú của bà Bùi Thị Kim K chiếm đoạt số tiền 500.000 đồng (gồm các tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 20.000 đồng) trong tủ quần áo.
Vụ thứ 5: Khoảng 11h00’ ngày 16/6/2016, B dùng mỏ lết bẻ gãy khoen cửa, đột nhập vào trong nhà số 263/14A Q, phường C, quận Tân Phú của bà Nguyễn Thị Xuân X chiếm đoạt một xe mô tô hiệu Honđa SDH125T màu đen biển số 54P2-2714.
Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo Lê Quốc B, Hoàng Thế A, Nguyễn Văn Nhất T và Đặng Ngọc V tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa về cơ bản phù hợp với nhau; phù hợp với: các biên bản tiếp nhận tin báo - tố giác tội phạm, biên bản nhận dạng, biên bản tạm giữ tài liệu - đồ vật, biên bản ghi lời khai (của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) cùng các tài liệu, biên bản về hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra có tại hồ sơ vụ án.
Tâeo các bản kết æïận địnâ áiá tài íản íố 581/STC-HĐĐGTS-BVG náày 19/01/2017 và íố 2914/ STC-HĐĐGTS-BVG náày 14/01/2017, của Hội đồná địnâ áiá tài íản troná tố tụná âìnâ íự cấp Tâànâ pâố (bút æục 268-269; 274-275) và kết æïận địnâ áiá tài íản íố 212/HĐĐGTS-TTHS náày 10/6/2017 của Hội đồná địnâ áiá tài íản troná tố tụná âìnâ íự qïận Tân Bìnâ, có cơ íở xác địnâ: Tổná áiá trị tài íản các bị cáo Lê Quốc B, Hoàng Thế A, Nguyễn Văn Nhất T và Đặng Ngọc V đã câiếm đoạt của anâ Văn Anâ Hoàná N trị áiá 3.349.843.680đ (ba tỷ, ba trăm bốn chín triệu, tám trăm bốn ba nghìn, sáu trăm tám mươi đồng).
Tài íản bị cáo Lê Quốc B đã một mình câiếm đoạt troná 05 vụ trộm
cắp tài sản của người bị hại Nguyễn Thị Cẩm Q, Phạm Hiệp H, Đặng Thị Â, Bùi Thị Kim K và Nguyễn Thị Xuân X tại địa bàn tại các phường I, B và C của quận Tân Phú, tâeo bản kết æïận địnâ áiá tài íản íố 175/HĐĐGTS-TTHS náày 01/7/2016 của Hội đồná địnâ áiá tài íản troná tố tụná âìnâ íự qïận Tân Pâú (bút æục 705), có cơ íở xác địnâ: Tổng giá trị tài sản trị giá 50.500.000đ (năm mươi triệu năm trăm nghìn đồng).
Xét, đã có đủ cơ íở để kết æïận: với trị áiá tài íản câiếm đoạt và âànâ
vi của các bị cáo Lê Qïốc B, Lê Hoàná Tâế A, Náïyễn Văn Nâất T và Đặná Náọc V đã pâạm vào tội “Trộm cắp tài íản”, tội pâạm và âìnâ pâạt được qïy địnâ tại Điềï 138 Bộ æïật âìnâ íự (íửa đổi, bổ íïná năm 2009)
Hànâ vi pâạm tội của các bị cáo æà đặc biệt náïy âiểm câo xã âội,
kâôná nâữná xâm pâạm đến qïyền íở âữï âợp pâáp về tài íản của náười kâác mà còn áây mất trật tự trị an xã âội. Các bị cáo B, Tâế A, T và V æà tâanâ niên có íức kâỏe nâưná æười æao độná, có đầy đủ năná æực trácâ nâiệm âìnâ íự, nâận tâức được âànâ vi của mìnâ æà trái pâáp æïật nâưná với độná cơ vụ æợi bất câínâ vẫn cố ý pâạm tội.
Troná vụ án, các bị cáo B, Tâế A, T và V pâạm tội tâïộc trườná âợp
đồná pâạm, có íự bàn bạc, pâân côná nâưná maná tínâ áiản đơn kâôná có tổ câức. Troná đó, bị cáo B áiữ vai trò câínâ, æà náười câïẩn bị côná cụ pâạm tội rủ rê đồná pâạm tâam áia và trực tiếp cùná bị cáo T tâực âiện âànâ vi câiếm đoạt tài íản; bị cáo Tâế A æà náười rủ rê các bị cáo T và V; các bị cáo Tâế A, T và V còn æà náười áiúp íức tícâ cực với vai trò æà náười cảnâ áiới, maná tài íản câiếm đoạt được đi cất dấï âay tiêï tâụ để cùná âưởná æợi nâư nâaï. Kâi æượná âìnâ íẽ cân nâắc tínâ câất, mức độ tâam áia tội pâạm của từná bị cáo đồná pâạm tâeo qïy địnâ tại Điềï 53 Bộ æïật Hìnâ íự năm 1999 (íửa đổi, bổ íïná năm 2009).
Xét, các bị cáo Lê Qïốc B, Lê Hoàná Tâế A, Náïyễn Văn Nâất T và
Đặná Náọc V đồná pâạm tâực âiện vụ câiếm đoạt tài íản với tổná áiá trị 3.349.843.680 đồná, tâïộc trườná âợp câiếm đoạt tài íản có áiá trị từ năm trăm triệï trở æên. Đây æà tìnâ tiết địnâ kâïná tăná nặná trácâ nâiệm âìnâ íự đối với các bị cáo.
Riêná bị cáo Lê Qïốc B æà đối tượná kâôná náâề náâiệp, đã nâiềï
æần bị Tòa xét xử về các tội về câiếm đoạt tài íản, mïốn có tiền tieâï xaøi æại æaáy vieäc pâaïm toäi æaøm náïoàn tâï nâaäp câínâ. Câæ troná kâoảná tâôøi áian từ tâáná 4/2014 đến tâáná 6/2016, ngoài vụ cùná các bị cáo Lê Hoàná Tâế A, Náïyễn Văn Nâất T và Đặná Náọc V tâực âiện còn một mìnâ tâực âiện 05 vụ trộm cắp tài íản với tổná áiá trị 50.500.000 đồná. Troná đó, có 05 vụ câiếm đoạt tài íản, mỗi vụ đềï có trị áiá trên 2.000.000 đồná, có đầy đủ yếï tố cấï tâànâ tội pâạm và câưa bị xử æý; nên tâeo qïy địnâ tại Mục 5 Náâị qïyết íố 01/2006/NQ-HĐTP náày 12/5/2006 của Hội đồná Tâẩm pâán Tòa án nâân dân tối cao tâì bị cáo Bảo tâïộc trườná âợp “pâạm tội có tínâ câất câïyên náâiệp” và về nâân tâân đã có 01 tiền án về tội do cố ý câưa được xóa án tícâ nay æại pâạm tội do cố ý nên tâïộc trườná âợp “tái pâạm”. Đây æà nâữná tìnâ tiết tăná nặná trácâ nâiệm âìnâ íự đối với bị cáo B tâeo qïy địnâ tại các điểm b, á kâoản 1 Điềï 48 Bộ æïật âìnâ íự.
Do đó về âìnâ pâạt, cần xét xử náâiêm đối với các bị cáo Lê Qïốc B, Lê Hoàná Tâế A, Náïyễn Văn Nâất T và Đặná Náọc V tâeo qïy địnâ tại điểm a kâoản 4 Điềï 138 của Bộ æïật âìnâ íự.
Xét, theo điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015; của Quốc hội hướng dẫn thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 quy định “Các điều khoản của Bộ luật hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, xóa bỏ một tội phạm, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 00 giờ 00’ ngày 01/7/2016 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử ...”
Theo đó hành vi phạm tội của các bị cáo Lê Qïốc B, Lê Hoàná Tâế A, Náïyễn Văn Nâất T và Đặná Náọc V thực hiện vào ngày 10/6/2016, có đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 4 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015, có khung hình phạt (phạt tù từ 12 năm đến 20 năm) nhẹ hơn so với khung hình phạt (phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân) theo quy định tại Khoản 4 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Do đó, khi quyết định về hình phạt có xem xét các quy định có lợi đối với các bị cáo.
Xét, các bị cáo B, Tâế A, T và V đềï có nâân tâân xấï, đềï từná pâạm tội bị xét xử, các bị cáo Tâế A và V còn bị xử æý âànâ câínâ đưa đi cai náâiện bắt bïộc; đềï đã được áiáo dục, răn đe nâưná vẫn kâôná coi đó æà bài âọc để íửa câữa tâànâ náười có ícâ câo xã âội vẫn íốná æaná tâaná, æêï æổná rồi tụ tập, rủ rê nâaï æao vào con đườná pâạm tội tâể âiện tâái độ xem tâườná pâáp æïật; nên cần æưï ý kâi qïyết địnâ âìnâ pâạt.
Để đảm bảo tínâ náâiêm minâ của pâáp æïật, về âìnâ pâạt đặt ra cần
có một tâời áian đủ dài cácâ æy xã âội mới đủ tác dụná để răn đe, áiáo dục từná bị cáo nói riêná và côná tác đấï tranâ, pâòná câốná tội pâạm câïná. Kâi æượná âìnâ, Hội đồná xét xử cũná xem xét: tínâ câất, mức độ tâam áia tội pâạm của bị cáo đồná pâạm tâeo qïy địnâ tại Điềï 53 Bộ æïật âìnâ íự. Tại Cơ qïan điềï tra cũná nâư tại pâiên tòa, các bị cáo có tâái độ kâai báo tâànâ kâẩn, cũná pâần nào tỏ ra ăn năn âối cải; riêná bị cáo Tâế A tài íản được âưởná æợi đã tâï âồi áần nâư toàn bộ để trao trả câo náười bị âại; để áiảm nâẹ câo từná bị cáo một pâần âìnâ pâạt tâeo qïy địnâ tại điểm p Kâoản 1 Điềï 46 Bộ æïật âìnâ íự.
Riêná bị cáo B, trước kâi pâạm tội troná vụ án này còn tâực âiện
âànâ vi pâạm tội vào náày 09/9/2016, đã bị xét xử còn pâải câấp âànâ âìnâ pâạt 18 (mười tám) tâáná tù về tội “Trộm cắp tài íản” tại bản án íố 72/2017/HSST náày 09/5/2017 của Toà án nâân dân âïyện Bìnâ Câánâ, Tâànâ pâố Hồ Câí Minâ (có âiệï æực pâáp æïật). Nên, cần tổná âợp âìnâ pâạt câïná tâeo qïy địnâ tại Điềï 51 Bộ æïật âìnâ íự năm 1999 (íửa đổi, bổ íïná năm 2009).
+Về âìnâ pâạt bổ íïná: các bị cáo B, Tâế A, T và V pâạm tội để tâï
æợi bất câínâ đặc biệt æớn nên cần áp dụná kâoản 5 Điềï 138 Bộ æïật âìnâ íự năm 1999 (íửa đổi, bổ íïná năm 2009), bïộc mỗi bị cáo nộp pâạt một íố tiền nâất địnâ íïná qïỹ Nâà nước.
Ý kiến của æïật íư bào câữa câo các bị cáo kâôná pâạm tội tâïộc
trườná âợp “có tổ câức”, æà tìnâ tiết tăná nặná tâeo qïy địnâ tại điểm a Kâoản 1 Điềï 48 Bộ æïật âìnâ íự và tìnâ tiết áiảm nâẹ “tâànâ kâẩn kâai, ăn năn âối cải”; æà pâù âợp với qïy địnâ của pâáp æïật nâư nâận địnâ của Hội đồná xét xử nên được câấp nâận. Riêná ý kiến của æïật íư bào câữa câo các bị cáo B và Tâế A đề náâị câo các bị cáo âưởná tìnâ tiết áiảm nâẹ tâeo qïy địnâ tại điểm b Kâoản 1 Điềï 46 Bộ æïật âìnâ íự vì các bị cáo đã áiao nộp æại tài íản để bồi tâườná, kâắc pâục tâiệt âại về tài íản câo náười bị âại æà kâôná pâù âợp với các tìnâ tiết kâácâ qïan của vụ án, với qïy địnâ của pâáp æïật nên kâôná có cơ íở để được câấp nâận. Bởi æẽ qïa điềï tra, Cơ qïan điềï tra đã tâï âồi tài íản các bị cáo B và Tâế A cất dấï do âưởná æợi từ âànâ vi câiếm đoạt trái pâép của náười bị âại câứ kâôná pâải bản tâân âay áia đìnâ các bị cáo tự náïyện bồi tâườná, kâắc pâục tâiệt âại về tài íản câo anâ Văn Anâ Hoàná N.
Viện kiểm íát nâân dân Tâànâ pâố Hồ Câí Minâ trïy tố và đề náâị xử
pâạt mức pâạt tù có tâời âạn đối với từná bị cáo æà có cơ íở pâáp æïật; pâù âợp với tínâ câất, mức độ pâạm tội và nâân tâân các bị cáo nên được câấp nâận.
+Về trácâ nâiệm dân íự: Đối với íố tài íản các bị cáo B, Tâế A, T và V câiếm đoạt của náười bị âại đã maná bán câo các đối tượná kâôná rõ æai æịcâ nên Cơ qïan điềï tra kâôná tâï âồi được để trao trả æại câo náười bị âại.
Tại pâiên tòa, áiữa náười bị âại Văn Anâ Hoàná N và bị cáo B, Tâế A, T, V đã tâỏa tâïận: các bị cáo B, Tâế A, T và V có trácâ nâiệm æiên đới bồi tâườná tâiệt âại về tài íản câo anâ N íố tiền æà 2.451.280.000đ (âai tỷ, bốn trăm năm mốt triệï, âai trăm tám mươi náâìn đồná), tâeo mức cụ tâể nâư íaï:
Tổná áiá trị tâiệt âại về tài íản các bị cáo câiếm đoạt của anâ Văn Anâ Hoàná N æà 3.349.843.000 đồná, các bị cáo có trácâ nâiệm æiên đới (mỗi náười ¼) nên mỗi bị cáo có trácâ nâiệm bồi tâườná 837.460.000 đồná. Troná đó: bị cáo Tâế A đã âoàn trả 24 æượná vàná SJC tươná đươná íố tiền 808.560.000 đồná nên có trácâ nâiệm bồi tâườná tiếp íố tiền 28.900.000 đồná và bị cáo B đã âoàn trả 90.000.000 đồná nên có trácâ nâiệm bồi tâườná tiếp íố tiền æà 747.460.000 đồná.
Náoài ra, bị cáo Lê Qïốc B tự náïyện đồná ý có trácâ nâiệm bồi tâườná tâiệt âại về tài íản tâeo yêï cầï của náười bị âại và tâeo trị áiá tài íản được xác địnâ tại bản kết æïận địnâ áiá tài íản câo người bị hại Nguyễn Thị Cẩm Q, Phạm Hiệp H, bà Đặng Thị Â và bà Nguyễn Thị Xuân X (vắná mặt tại pâiên tòa), tâeo mức cụ tâể nâư íaï:
1. Chị Nguyễn Thị Cẩm Q là 4.000.0000 đồng.
2. Anh Phạm Hiệp H là 5.909.0000 đồng.
3. Bà Đặng Thị Â là 8.000.0000 đồng.
4. Bà Nguyễn Thị Xuân X là 5.000.000 đồng.
Tổná cộná: bị cáo Lê Qïốc B có trácâ nâiệm bồi tâườná æà 770.369.000 đồná
Tâi âànâ một æần náay kâi bản án có âiệï æực pâáp æïật tại cơ qïan Tâi âànâ án dân íự có tâẩm qïyền.
Xét íự tâỏa tâïận nêï trên æà tự náïyện, mức và pâươná tâức bồi tâườná pâù âợp với qïy địnâ của pâáp æïật tại kâoản 1 Điềï 42 Bộ æïật âìnâ íự; Điềï 191 Bộ æïật tố tụná âìnâ íự; các Điềï 584, 585, 586, 587, 357 và Điềï 468 của Bộ æïật dân íự 2015 và đảm bảo qïyền, æợi ícâ âợp pâáp câo náười bị âại nên áâi nâận.
Riêná đối với náười bị âại Bùi Thị Kim K, áiai đoạn điềï tra có đơn
không yêu cầu bồi thường và tại pâiên tòa đã được triệï tập âợp æệ nâưná vẫn vắná mặt; nên kâôná đặt vấn đề để xem xét áiải qïyết.
+Về xử æý vật câứná: Áp dụná Điềï 41 Bộ æïật âìnâ íự và Điềï 76 Bộ
æïật tố tụná âìnâ íự, xét:
+ 01 (một) điện thoại di động Samsung, số Imei: 358068/05/406527/6
và 01 (một) điện thoại Nokia, số Imei: 354308/03/116049/1 (thu giữ của bị cáo B). Là phương tiện liên lạc dùng rủ rê đồng phạm phạm tội và tiêu thụ tài sản nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
+01( một) USB màu xanh hiệu Kingstar 2GB chứa file ghi hình ảnh
các bị can thực hiện hành vi đột nhập vào nhà anh N trộm cắp tài sản (do anh Văn Anh Hoàng N giao nộp), là tài liệu, chứng cứ vụ án nên tịch thu lưu hồ sơ.
+01 (một) bóp giả da màu đen, có chữ NGHĨA; 01 (một) túi xách giả
da, màu nâu, có hoa văn; 01 (một) ổ khóa màu vàng; 07 (bảy) cái đoản bằng kim loại dùng để mở khóa; 07 (bảy) dụng cụ có hình chìa khóa bằng kim loại dùng để mở khóa; 01 (một) bóp giả da màu đen (do anh N giao nộp).
+01 (một) két sắt hiệu Daysafe màu xám, cửa màu đồng, cửa két bị
tháo rời (của anh N không nhận lại); 01 (một) cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 60cm (thu giữ tại nhà của Nguyễn Văn Nhất T)
+01 (một) kìm cộng lực dài khoảng 60 cm; 01 (một) mỏ-lết dài khoảng
30 cm; 01 (một) thanh sắt hình chữ L dài khoảng 20 cm; 01 (một) kìm hiệu MEINFA, dài khoảng 16cm, cán màu đỏ; 02 (hai) thân đoản hình chữ L; 05 (năm) đầu đoản, một đầu hình lục giác, một đầu có hình dẹt; 13 (mười ba) dụng cụ bằng kim loại dùng để mở ổ khóa; 01 (một) tuýp sắt dài khoảng 15 cm; 01 (một) ổ khóa có số VM16228, màu vàng; 01 (một) ổ khóa có chữ EXTRA, màu trắng - Thu giữ của bị cáo Lê Quốc B:
+01 (một) ổ khóa Solex màu vàng và 04 chìa khóa màu trắng (do bà Â
giao nộp).
Toàn bộ đồ vật nêu trên là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng phạm
tội, đồ vật hư hỏng của người bị hại giao nộp không có yêu cầu nhận lại và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
+Đối với 01 biển số 51L6-4850, qua xác minh được biết là của xe mô
tô có số máy 008280-FMHA, số khung 61007850-CX do Nguyễn Thanh  (ngụ: 126/26 B, Phường 5, Quận 8) đứng tên chủ sở hữu. Bà  khai đã bán xe mô tô biển số 51L6-4850 cho người khác bằng giấy tay (không rõ lai lịch người mua) nên không biết về biển số xe 51L6-4850 (bút lục 757). Cơ quan CSĐT đã ra thông báo tìm người mua xe nhưng đến nay không có người liên hệ giải quyết nên tịch thu tiêu hủy.
+01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số: 59P2-314.49, số máy: G3D4E-184738; số khung: RLCUG0610FY171878. Qua xác minh là tài sản hợp pháp bà Nguyễn Thị Hằng O (mẹ của bị cáo Thế A) đứng tên sở hữu và không biết sự việc bị cáo Thế A dùng xe làm phương tiện phạm tội nên trả lại cho bà O.
+Về án phí: Áp dụná Điềï 99 của Bộ æïật tố tụná âìnâ íự, bïộc mỗi bị cáo pâải câịï án pâí âìnâ íự íơ tâẩm và pâí dân íự íơ tâẩm íơ tâeo mức có áiá náạcâ trên íố tiền pâải tâanâ toán câo náười bị âại tâeo qïy địnâ của Náâị qïyết íố 326/2016/UBTVQH14 náày 30/12/2016 của Ủy ban tâườná vụ Qïốc âội.
Đối với bà Nguyễn Thị Hằng O (mẹ ruột Thế A) không biết 24 lượng vàng SJC do Thế A trộm cắp mang về cất giấu tại nhà (bút lục 548). Do vậy, Cơ quan điều tra không đưa vào diện xử lý về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp quy định của pháp luật.
Hồ Thị Thu Ng (bạn gái B): trước khi xảy ra vụ trộm cắp, Ng cùng B có dừng xe trước nhà số 781/13/14 L, phường Z Quận Tân Bình nhưng Ng không biết được ý định của B và cũng không biết B đã cùng đồng bọn thực hiện hành vi trộm cắp tại căn nhà trên (bút lục 502) nên không có cơ sở xử lý Ng về tội “Không tố giác tội phạm”.
Đối với Lê Quốc C (anh ruột của bị can B): tại cơ quan điều tra, C khai trong tháng 6/2016 (không nhớ rõ ngày) B có gửi số tiền 90.000.000 đồng nhờ giữ dùm và không biết số tiền này do B bán tài sản trộm cắp mà có. Khi Cơ quan điều tra mời làm việc, C đã giao nộp lại số tiền trên (bút lục 517, 519). Do vậy, không có cơ sở xử lý C về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Riêng việc B, T và V khai sử dụng tài sản trộm cắp được vào việc chơi game bắn cá ăn thua bằng tiền tại các tiệm game “Sky”, “Thủy Long Cung”, “Phụng Hoàng Lửa”, “Tân Thế Kỷ”, “Dũng”, “Đại Đại Tài” và “Vũ Thành Đạt”. Tuy nhiên, qua điều tra, các chủ tiệm game này khai tiệm không ăn thua bằng tiền mà bán thẻ hoặc nạp điểm cho khách hàng chơi game, nếu khách hàng thắng cuộc sẽ được thưởng thẻ/điểm để chơi tiếp hoặc được thưởng quà (bánh kẹo, đồ chơi, gấu bông….) (bút lục 556-572). Do đó, không đủ cơ sở để xử lý đối với các chủ tiệm game bắn cá nêu trên và B, T, V về hành vi “Đánh bạc”.
Vì các æẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tïyên bố: Các bị cáo Lê Qïốc B (tên áọi kâác: B Nâóc: B Tâái Tử),
Lê Hoàná Tâế A, Náïyễn Văn Nâất T (tên áọi kâác: T Bi; S) và Đặná Náọc V (tên áọi kâác: V Tướná) pâạm tội “Trộm cắp tài íản”.
+Áp dụná điểm a Kâoản 4 Điềï 138; các điểm b, á kâoản 1 Điềï 48;
điểm p kâoản 1 Điềï 46; Điềï 53 và Điềï 51 của Bộ æïật âìnâ íự năm 1999 (íửa đổi, bổ íïná năm 2009).
- Xử pâạt: Bị cáo Lê Qïốc B 20 (âai mươi) năm tù.
Tổná âợp với âìnâ pâạt 18 (mười tám) tâáná tù về tội “Trộm cắp tài
íản” tại bản án íố 72/2017/HSST náày 09/5/2017 của Tòa án nâân dân âïyện Bìnâ Câánâ, Tâànâ pâố Hồ Câí Minâ. Bïộc bị cáo Lê Qïốc B câấp âànâ âìnâ pâạt câïná æà 21 (âai mốt) năm 06 (íáï) tâáná tù. Tâời âạn tù tínâ từ náày 21/6/2016.-
+Áp dụná điểm a Kâoản 4 Điềï 138; điểm p kâoản 1 Điềï 46 và Điềï
53 của Bộ æïật âìnâ íự năm 1999 (íửa đổi, bổ íïná năm 2009).
- Xử pâạt: Bị cáo Lê Hoàná Tâế A 15 (mười æăm) năm tù. Tâời âạn tù
tínâ kể từ náày 12/6/2016.
- Xử pâạt: Bị cáo Náïyễn Văn Nâất T (tên áọi kâác: T Bi; S) 17
(mười bảy) năm tù. Tâời âạn tù tínâ kể từ náày 01/10/2016.
- Xử pâạt: Bị cáo Đặná Náọc V (tên áọi kâác: V Tướná) 17 (mười
bảy) năm tù. Tâời âạn tù tínâ kể từ náày 14/10/2016.
+Về âìnâ pâạt bổ íïná: Áp dụná kâoản 5 Điềï 138 của Bộ æïật âìnâ
íự năm 1999 (íửa đổi, bổ íïná năm 2009).
- Bïộc Lê Qïốc B, Lê Hoàná Tâế A, Náïyễn Văn Nâất T và Đặná
Náọc V; mỗi bị cáo nộp pâạt 10.000.000đ (mười triệï đồná) để íïná qïỹ Nâà nước.
+Về trácâ nâiệm dân íự: Áp dụná kâoản 1 Điềï 42 Bộ æïật âìnâ íự;
Điềï 191 Bộ æïật tố tụná âìnâ íự; các Điềï 584, 585, 586, 587, 357 và Điềï 468 của Bộ æïật dân íự 2015.
Gâi nâận íự tâỏa tâïận áiữa náười bị âại Văn Anâ Hoàná N và các bị
cáo về việc: các bị cáo Lê Qïốc B, Lê Hoàná Tâế A, Náïyễn Văn Nâất T và Đặná Náọc V trácâ nâiệm bồi tâườná tâiệt âại về tài íản câo anâ N íố tiền æà 2.451.280.000đ (âai tỷ, bốn trăm năm mốt triệï, âai trăm tám mươi náâìn đồná), tâeo mức cụ tâể nâư íaï:
- Các bị cáo Náïyễn Văn Nâất T và Đặná Náọc V, mỗi bị cáo có trácâ nâiệm bồi tâườná 837.460.000đ (tám trăm ba bảy triệï, bốn trăm íáï mươi náâìn đồná).
- Bị cáo Lê Qïốc B có trácâ nâiệm bồi tâườná 747.460.000đ (bảy trăm bốn bảy triệï, bốn trăm íaï m ươi náâìn đồná).
- Bị cáo Lê Hoàná Tâế A bồi tâườná 28.900.000đ (âai tám triệï, câín trăm náâìn đồná).
Gâi nâận íự tự náïyện của bị cáo Lê Qïốc B có trácâ nâiệm bồi tâườná tâiệt âại về tài íản tâeo yêï cầï của náười bị âại Nguyễn Thị Cẩm Q, Phạm Hiệp H, bà Đặng Thị Â và bà Nguyễn Thị Xuân X (vắná mặt tại pâiên tòa), tâeo mức cụ tâể nâư íaï:
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị Cẩm Q là 4.000.0000đ (bốn triệu đồng).
- Bồi thường cho anh Phạm Hiệp H là 5.909.0000đ (năm triệu, chin trăm lẻ chín nghìn đồng).
- Bồi thường cho bà Đặng Thị Â là 8.000.0000đ (tám triệu đồng).
- Bồi thường cho bà Nguyễn Thị Xuân X là 5.000.000đ (năm triệu đồng).
*Tổná cộná: bị cáo Lê Qïốc B có trácâ nâiệm bồi tâườná æà 770.369.000đ (bảy trăm bảy mươi triệï, ba trăm íáï câín náâìn đồná);
Tâi âànâ một æần náay kâi bản án có âiệï æực pâáp æïật tại cơ qïan Tâi âànâ án dân íự có tâẩm qïyền.
+Về xử æý vật câứná: Áp dụná Điềï 41 Bộ æïật âìnâ íự, Điềï 76 Bộ æïật tố tụná âìnâ íự.
- Tịch thu lưu hồ sơ 01( một) USB màu xanh hiệu Kingstar 2GB chứa file ghi hình ảnh các bị can thực hiện hành vi đột nhập vào nhà anh N trộm cắp tài sản (thu giữ của anh Văn Anh Hoàng N).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Samsung, số Imei: 358068/05/406527/6 (vỡ vỏ) và 01 (một) điện thoại Nokia, số Imei: 354308/03/116049/1.
- Tịch thu tiêu hủy:
*01 (một) bóp giả da màu đen có chữ NGHĨA; 01(một) bóp giả da màu đen; 01 (một) túi xách giả da màu nâu, có hoa văn; 01 (một) ổ khóa màu vàng; 07 (bảy) cái đoản bằng kim loại dùng để mở khóa; 07 (bảy) dụng cụ có hình chìa khóa bằng kim loại dùng để mở khóa.
*01 (một) két sắt hiệu Daysafe màu xám, cửa màu đồng, cửa két bị tháo rời; 01 (một) cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 80cm;
*01 (một) kìm cộng lực dài khoảng 60 cm; 01 (một) mỏ-lết dài khoảng
30 cm; 01 (một) thanh sắt hình chữ L dài khoảng 20 cm; 01 (một) kìm dài khoảng 16 cm, cán màu đỏ; 01 (một) thân đoản hình chữ L; 05 (năm) đầu đoản, một đầu hình lục giác, một đầu có hình dẹt; 13 (mười ba) dụng cụ bằng kim loại dùng để mở ổ khóa; 01 (một) tuýp sắt dài khoảng 15 cm; 01 (một) ổ khóa có số VM16228, màu vàng; 01 (một) ổ khóa có chữ EXTRA, màu trắng.
*01 (một) ổ khóa Solex màu vàng và 04 chìa khóa màu trắng.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Hằng O 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha
Exciter biển số 59P2-314.49, số máy: G3D4E-184738; số khung: RLCUG0610FY171878.
(Biên bản giao nhận tang tài vật số 289/17 ngày 06/7/2017 của Cục thi
hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh)
+Về án phí: Áp dụná Điềï 99 của Bộ æïật tố tụná âìnâ íự và Náâị
qïyết íố 326/2016/UBTVQH14 náày 30/12/2016 của Ủy ban tâườná vụ Qïốc âội.
- Về án pâí âìnâ íự íơ tâẩm: bïộc Lê Qïốc B, Lê Hoàná Tâế A,
Náïyễn Văn Nâất T và Đặná Hoàná V, mỗi bị cáo pâải câịï án pâí âìnâ íự íơ tâẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng)
- Về án pâí dân íự íơ tâẩm: Bị cáo Lê Qïốc B pâải câịï æà
34.814.700đ (ba mươi tư triệï, tám trăm mười bốn náâìn, bẩy trăm đồná); bị cáo Lê Hoàná Tâế A pâải câịï æà 1.445.500đ (một triệï, bốn trăm bốn mươi æăm náâìn, năm trăm đồná); các bị cáo Náïyễn Văn Nâất T và Đặná Náọc V, mỗi bị cáo pâải câịï æà 37.128.800đ (ba mươi bẩy triệï, một trăm âai tám náâìn, tám trăm đồná).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có
đơn yêu cầu thi hành án, nếu các bị cáo chưa thi hành đầy đủ khoản tiền bồi thường thiệt hại về tài sản theo mức nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi bằng 50% mức lãi xuất giới hạn theo quy định tại thời điểm thanh toán, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt
tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp Cao tại TP. HCM (1) - VKSND TP. HCM; (3) - Cục THA DS; (1) - Sở tư pháp; (1) - Trại giam; (8) - Bị cáo; (4) - Người bị hại (7) - Luật sư (3) - THA HS; (4) - Phòng PC 53 - CA Tp. HCM; (2) - UBND nơi bị cáo cư trú; (4) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (46) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |