vanban.org

Bản án 363/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 23/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn G 10 ( Mười ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2017. Miễn phạt tiền cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Gang phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 363/2017/HSST
Ngày 23/11/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Phi Mạnh

2. Bà Trần Thị Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Chiều, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thúy, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 363/2017/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2017, theo quyết định đưa ra xét xử số 328/2017/QĐXXST - HS ngày 24/10/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn G, sinh năm 1994; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Â, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/10; Dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Văn D và bà Trần Thị P; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Bản án số 33/2016/HSST ngày 28/01/2016 Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2016, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/7/2016, trị giá tài sản dưới 02 triệu đồng ( Chưa xóa án tích ). Tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 226/2015/HSST ngày 15/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2015 ( đã xóa án tích ):

Bị cáo bị bắt quả tang và giam giữ từ ngày 11/7/2017.

( Có mặt ).

- Người bị hại:

1. Chị Đỗ Thị N – sinh năm 1997. Chỗ ở: 40 BT1, khu đô thị P, phường H – quận HM – Thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt)

2. Chị Lê Thị C – sinh ngày 28/10/1999. Chỗ ở: 40 BT1, khu đô thị P, phường H – quận HM – Thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt)

3. Anh Nguyễn Bá L – sinh năm 1995. Chỗ ở: 40 BT1, khu đô thị P, phường H – quận HM – Thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h00 ngày 10/7/2017, Nguyễn Văn G đi xe khách từ Thanh Hóa đến Hà Nội để tìm việc làm. Khi đến Hà Nội, G đi vào khu vực Khu đô thị P, phường H, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội để tìm thuê nhà trọ nhưng không tìm được. Đến khoảng 02h30 ngày 11/7/2017, khi Giang đến ký túc xá của Công ty T ở số nhà 40BT1 khu đô thị P thì G nẩy sinh ý định trộm cắp tài sản, G đi vào tầng 01 để tìm tài sản thì thấy chị Đỗ Thị N và chị Lê Thị C đang nằm ngủ trên đầu giường có 02 túi xách, G lén lút lại gần rồi lấy 02 túi xách và đi vào nhà vệ sinh, G mở túi xách của chị N lấy được số tiền 580.000 đồng, G tiếp tục mở túi xách của chị C lấy được số tiền 2.000.000 đồng. G cất số tiền vừa lấy được vào túi quần sau bên phải, vứt lại 02 túi xách tại nhà vệ sinh và tiếp tục đi lên tầng 02 để trộm cắp tài sản. Tại tầng 02, G nhìn thấy anh Nguyễn Bá L đang nằm ngủ cạnh người có 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5S đang cắm sạc, G đã thò tay qua vách ngăn cầu thang để lấy nhưng chưa lấy được thì bị anh Nguyễn Đức H ở tại tầng 2 căn nhà phát hiện hô hoán mọi người bắt giữ.

Theo kết luận định giá tài sản số 209/KLĐG ngày 14/07/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu xám đen, Imei: 352004065541811, máy qua sử dụng có giá trị: 2.500.000đồng.

Tại cơ quan Công an, Chị Đỗ Thị N và Lê Thị C khai nhận: Khoảng 03h ngày 11/7/2017, khi chị N và C đang ngủ thì nghe thấy tiếng gọi của anh H báo tại ký túc xá có trộm. Chị N và C kiểm tra tài sản thì phát hiện bị mất 02 chiếc túi xách để tại đầu giường. C và N đi tìm thì phát hiện hai chiếc túi xách ở khu vực nhà vệ sinh. Kiểm tra tài sản bên trong hai chiếc túi, chị N phát hiện bị mất 580.000 đồng, chị C phát hiện bị mất số tiền 2.000.0000 đồng.

Anh Nguyễn Bá L khai: Trong lúc đang ngủ thì nghe tiếng của anh H hô trộm nên anh L tỉnh dậy thì thấy anh H đang giữ Nguyễn Văn G, G khai nhận vừa lấy tiền của C và N ở tầng 1 xong thì lên tầng 2 đang lấy điện thoại của anh L thì bị phát hiện và bắt giữ.

Cơ quan Công an đã trao trả số tiền 580.000 đồng cho chị Đỗ Thị N, số tiền 2.000.000đồng cho chị Lê Thị C, chiếc điện thoại Iphone 5S cho anh Nguyễn Bá L. Chị N, chị C và anh L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với 02 chiếc túi xách không còn giá trị nữa nên chị N và C đã bỏ đi. Chị N và chị C không yêu cầu đề nghị gì về chiếc túi trên.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn G thừa nhận hành vi của mình như trên. Người bị hại đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Tại bản cáo trạng số 336/CT-VKS ngày 04 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Văn G về tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t gi÷ quyÒn c«ng tè t¹i phiªn toµ sau khi ph©n tÝch vai trß, tÝnh chÊt, møc ®é hµnh vi ph¹m téi, nh©n th©n cña bÞ c¸o kÕt luËn gi÷ nguyªn quan ®iÓm truy tè bÞ c¸o nh néi dung b¶n c¸o tr¹ng.

§Ò nghÞ Héi ®ång xÐt xö: Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản1 điều 48 Bộ luật Hình sự 1999.

Xử phạt: Nguyễn Văn G: Từ 12 tháng đến 16 tháng tù. Miễn phạt tiền cho bị cáo, trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong.

T¹i phiªn toµ bÞ c¸o Nguyễn Văn G khai nhận như khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận vào ngày 11/7/20017 tại ký túc xá của Công ty T ở khu đô thị P bị cáo đã trộm cắp của chị Đỗ Thị N và chị Lê Thị C số tiền 2.580.000 đồng và trộm cắp của anh Nguyễn Bá L 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5S thì bị bắt quả tang. Bị cáo thừa nhận cáo trạng của VKS truy tố bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Lời nói sau cùng của bị cáo: BÞ c¸o thÊy ® îc hµnh vi cña m×nh lµ vi ph¹m ph¸p luËt, bÞ c¸o ®Ò nghÞ H§XX xem xÐt gi¶m nhÑ h×nh ph¹t cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định: Hồi 02h30 ngày 11/7/20017 tại ký túc xá của Công ty T ở khu đô thị P, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội bị cáo Nguyễn Văn G đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Đỗ Thị N, chị Lê Thị C số tiền 2.580.000 đồng và chiếm đoạt của anh Nguyễn Bá L 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5S trị giá 2.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 5.080.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa xóa án tích nên lần này phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôn nay bị cáo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, các tài sản đã thu hồi trả lại người bị hại. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p, g khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự.

Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo có 02 tiền án, trong đó có 01 tiền án chưa xóa án tích do đó phải áp dụng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ giáo dục bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về dân sự: Những người bị hại đã nhận tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ: Khoản 1 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Điều 99; Điều 231; Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự. Khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn G 10 ( Mười ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2017.

Miễn phạt tiền cho bị cáo.

Về dân sự: Những người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên không giải quyết.

Bị cáo phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ