vanban.org

Bản án 360/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trương Văn Kh và chị Huỳnh Cẩm T.

2 - Về con chung: Giao cháu Trương Anh H, sinh ngày 04/4/2018 cho anh Trương Văn Kh tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Chị Huỳnh Cẩm T không trực tiếp nuôi con vẫn được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. 3 - Về tài sản chung: Anh Kh xác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Kh xin ly hôn chị T"
  • Tòa quyết gì? 1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trương Văn Kh và chị Huỳnh Cẩm T.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 360/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28 – 8 – 2024
V/v “Tranh chấp của nam, nữ
chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Năm

2. Bà Đỗ Mỹ Lil

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 350/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 305/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trương Văn Kh, sinh năm: 1988 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M.Đ.A, xã T.A.K, huyện Đ.D, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Huỳnh Cẩm T, sinh năm: 1998 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 4, thị trấn S.Đ, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 05/6/2024, anh Trương Văn Kh trình bày quan điểm và yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Anh và chị Huỳnh Cẩm T chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 2017, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo luật định. Trong quá trình chung sống, anh và chị T luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vả, không thể hòa hợp được với nhau. Trên thực tế anh và chị T không còn chung sống như vợ chồng hơn 01 năm qua.

Từ nội dung trên, anh nhận thấy tình cảm của anh và chị T không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống và duy trì mối quan hệ vợ, chồng được nữa nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được chấm dứt quan hệ vợ, chồng với chị T.

- Về con chung: Anh xác định giữa anh và chị T có 01 người con chung là Trương Anh H, sinh ngày 04/4/2018, hiện đang sống chung với anh. Khi ly hôn, anh yêu cầu tiếp tục được nuôi con chung, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Anh xác định giữa anh và chị T không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Anh khai nhận giữa anh và chị T không có nợ chung và không ai nợ lại anh, chị.

* Đối với chị Huỳnh Cẩm T vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng dân sự: Về loại việc và thẩm quyền của Toà án: Tranh chấp giữa anh Trương Văn Kh và chị Huỳnh Cẩm T là “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với việc vắng mặt của chị Huỳnh Cẩm T: Mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến tham gia phiên toà để xét xử vụ án, thông qua thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng nhưng chị T vẫn không có ý kiến phản hồi, đồng thời cũng không có mặt tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị T theo luật định. Đối với việc đề nghị vắng mặt của anh Trương Văn Kh, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Kh theo luật định.

Về quan hệ hôn nhân: Trên thực tế, anh Trương Văn Kh và chị Huỳnh Cẩm T có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 2017 đến 2023. Theo anh Kh trình bày, giữa anh và chị T không đăng ký kết hôn, đồng thời xác nhận của cơ quan có thẩm quyền thì anh Kh và chị T không có đăng ký kết hôn. Do đó, quan hệ hôn nhân của anh Kh và chị T đã vi phạm về đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Cho nên việc kết hôn là không thỏa mãn về mặt hình thức, nay anh Kh có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân do có nhiều mâu thuẫn, về mục đích hôn nhân không đạt. Bởi lẽ, trong thời gian chung sống, anh Kh và chị T luôn bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình và thường xuyên cải vã, gây bất hòa với nhau mà không bên nào có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn. Bên cạnh đó, anh Kh xác định tình cảm vợ, chồng giữa anh và chị T không còn nên anh, chị đã không còn chung sống vợ, chồng (tự ly thân) hơn 01 năm qua.

Theo tinh thần hướng dẫn tại điểm b khoản 3 của Nghị quyết 35 của Quốc hội quy định: Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, nam và nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ, chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Mặt khác, căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con ... thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét mâu thuẫn thực tế của anh Kh và chị T đến mức trầm trọng, đời sống chung H tại cũng không còn nên mục đích hôn nhân không đạt được, đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ, chồng.

Về con chung: Xét thấy cháu Trương Anh H, sinh ngày 04/4/2018 hiện chung sống với anh Kh nên tình cảm, tâm lý, sinh hoạt, học tập thường ngày của cháu đã ổn định, cần tiếp tục giao cháu H cho anh Kh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh Kh không đặt ra yêu cầu nên không xem xét việc cấp dưỡng là có cơ sở.

Về tài sản chung: Anh Kh xác định giữa anh và chị T không có tài sản chung nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Anh Kh khai nhận giữa anh và chị T không có nợ chung và không ai nợ lại anh, chị nên không đề cập giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Anh Kh là nguyên đơn nên anh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Anh Kh và chị T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 9, Điều 14, Điều 15 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trương Văn Kh và chị Huỳnh Cẩm T.

2 - Về con chung: Giao cháu Trương Anh H, sinh ngày 04/4/2018 cho anh Trương Văn Kh tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Chị Huỳnh Cẩm T không trực tiếp nuôi con vẫn được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3 - Về tài sản chung: Anh Kh xác định không có nên không đặt ra xem xét.

4 - Về nợ chung: Anh Kh khai nhận giữa anh và chị T không có nợ chung và không ai nợ lại anh, chị nên không đề cập giải quyết.

5 - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Anh Trương Văn Kh phải chịu 300.000đ, ngày 05 tháng 6 năm 2024, anh Kh đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên lai số : 5096 được đối trừ chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực H theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6 - Về quyền kháng cáo: Anh Trương Văn Kh và chị Huỳnh Cẩm T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ