- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đô phạm tội Làm nhục người khác - phạm tội làm nhục người khác (điều 155 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng : Điểm e khoản 2 Điều 155, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333, 420, 423, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyế…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày 25/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Thành T
Các Hội thẩm nhân dân :
Bà Nguyễn Thị Vân, nguyên giáo viên nghỉ hưu;
Ông Đặng Viết Côi, nguyên giáo viên, hiệu trưởng trường THCS
- Thư ký phiên toà : Bà Tưởng Thị Lan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở toà án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 37/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo : NGÔ VĂN Đ, sinh năm 2005; sinh trú quán : Thôn Tân Đng, xã Tân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo : Không; nghề nghiệp : Học sinh; trình độ học vấn : 12/12; con ông : Ngô Văn Điều, sinh năm 1975; con bà : Phan Thị Phương, sinh 1984; vợ, con : Chưa có; tiền án, tiền sự : Không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2023 đến ngày 28/02/2024, được huỷ bỏ biện pháp tạm giam, áp dụng “Quyết định về việc bảo lĩnh, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh”, có mặt tại phiên tòa.
1.Người bị hại : Chị Kiều Thị Phương T, sinh ngày 01 tháng 6 năm 2007, trú tại : Thôn Thọ Vực, xã Đội Bình, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, vắng mặt; những người đại diện hợp pháp theo pháp luật của người bị hại : Ông Kiều Văn Hà, sinh năm 1976 và bà Đào Thị Hoa,(Là bố, mẹ chị T); đều trú tại : Thôn Thọ Vực, xã Đội Bình, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
2. Những người làm chứng :
2.1 Chị Đào Thị Hương Ly, sinh ngày 03/02/2006; người đại diện hợp pháp cho chị Ly là ông Đào Văn Thinh, sinh năm 1983 (Bố chị Ly); Đều trú tại : Thôn Thọ Vực, xã Đội Bình, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội; vắng mặt;
2.2 Chị Nguyễn Thị Ngọc Ánh, sinh ngày 08/12/2006; người đại diện cho chị Ánh là bà Đoàn Thị Hiền, giáo viên trường THPT Lưu Hoàng; trú tại : Thôn Thanh Bồ, xã Lưu Hoàng, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, vắng mặt;
2.3 Chị Nguyễn Thị Hồng, sinh ngày 18/10/2006; trú tại : Thôn Dư Xá, xã Hòa Nam, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, người đại diện cho chị Hồng là bà Đoàn Thị Hiền, giáo viên trường THPT Lưu Hoàng; trú tại : Thôn Thanh Bồ, xã Lưu Hoàng, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Tháng 4/2023, Ngô Văn Đ ở thôn Tân Đng, xã Tân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An làm quen, kết bạn với Kiều Thị Phương T, sinh ngày 01/6/2007, trú tại : thôn Thọ Vực, xã Đội Bình, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội qua phần mềm "Ome TV", Đ và T thường xuyên nhắn tin, gọi điện với nhau qua ứng dụng Zalo, Messenger rồi nảy sinh tình cảm. Tối 09/7/2023 Đ và T gọi video cho nhau qua phần mềm Messenger, rồi Đ bảo T cởi quần áo quay cho Đ xem cơ thể của T, T đồng ý. Khi T đang quay camera điện thoại vào ngực và bộ phận sinh dục của mình thì Đ dùng điện thoại quay lại video màn hình điện thoại của mình rồi lưu lại.
Khoảng đầu tháng 11/2023 giữa Đ và T xảy ra mâu thuẫn, T nói chia tay với Đ. Do bực tức việc T nói chia tay nên ngày 14/11/2023 Đ đã vào Facebook tìm trang cá nhân của T có tên "Phương T" rồi tìm ở mục bạn bè thấy tài khoản tên "Hương Ly", chủ tài khoản là Đào Thị Hương Ly, trú tại : thôn Thọ Vực, xã Đội Bình, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội là bạn của T, nên Đ dùng tài khoản Facebook "Nguyễn Hùng" của mình vào trang cá nhân tên "Hương Ly" thấy có 01 bài đăng mới của Ly. Tại mục bình luận của bài đăng này, Đ đã gửi bức ảnh bộ phận sinh dục của T đã được che một phần và viết thêm bình luận “Gần 3.000 người xem”. Sau đó Đ thấy tài khoản "Hương Ly" đã xoá bình luận và ảnh do Đ gửi thì Đ tiếp tục vào trang cá nhân của Ly thấy trong phần bạn bè có 2 tài khoản là "Ng Hồng" chủ tài khoản là Nguyễn Thị Hồng, sinh ngày 18/10/2006, chỗ ở thôn Dư Xá, xã Hoà Nam, huyện Ứng Hoà và "Nguyen Ngoc Anh" chủ tài khoản là Nguyễn Ngọc Ánh, sinh ngày 08/12/2006 chỗ ở thôn Thanh Bồ, xã Lưu Hoàng, huyện Ứng Hoà. Đ dùng tài khoản Facebook "Nguyễn Hùng" gửi đến tài khoản trên qua phần mềm Messenger video quay bộ phận sinh dục của T, cùng dòng chữ "Full video 2p48s của Kiều Thị Phương T, học sinh Trường THPT Lưu Hoàng, Share để cùng nhau xem nhé" và gửi vi deo cho nic “admin” trong nhóm “Động Sex” trên phần mềm Telegram. Khoảng 2-3 ngày sau thì Đ xoá video trong điện thoại của Đ cùng các tin nhắn Đ gửi đến tài khoản "Ng Hồng" và "Nguyen Ngoc Anh".
Ngày 30/11/2023 ông Kiều Văn Hà là người đại diện của Kiều Thị Phương T gửi đơn tố giác đến Cơ quan điều tra; Ngày 01/12/2023, Kiều Thị Phương T và ông Kiều Văn Hà có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự gửi Cơ quan CSĐT-Công an huyện Ứng Hoà.
Ngày 01/12/2023, Cơ quan điều tra triệu tập Ngô Văn Đ để làm việc, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật Ngô Văn Đ đã xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng (do Đ giao nộp).
- 01 video tên 75364368 mp4, dài 02 phút 47 giây, được lưu trong 01 đĩa DVD màu vàng, nhãn hiệu Maxell do Kiều Thị Phương T giao nộp (ký hiệu A1).
- 01 video tên 8059359555019869353 mp4, size 7.44MB, dài 02 phút 47 giây được lưu giữ trong đĩa DVD-R nhãn hiệu Maxell do Nguyễn Thị Hồng giao nộp (ký hiệu A3).
- 01 video tên 304703003836891097 mp4, size 7.44 MB, dài 02 phút 48 giây được lưu trong đĩa DVD-R nhãn hiệu Maxell do Nguyễn Ngọc Ánh giao nộp (ký hiệu A2).
Ngày 14/12/2023, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hoà ra quyết định trưng cầu giám định số 261 đối với các đoạn vi deo đã thu giữ trên. Tại bản kết luận giám định số 1905/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận:
"- File video ký hiệu A1 gửi giám định có dung lượng: 5.16 MB
- File video ký hiệu A2 gửi giám định có dung lượng: 7.44 MB
- File video ký hiệu A3 gửi giám định có dung lượng: 7.44 MB
- Các file video (ký hiệu từ A1 đến A3) gửi giám định có tổng dung lượng: 20.04 MB.
- Không xác định được được nội dung hình ảnh của các file video (ký hiệu từ A1 đến A3) gửi giám định có bị cắt ghép chỉnh sửa hay không, do nội dung hình ảnh của các file video được ghi lại từ màn hình hiển thị của thiết bị."
Ngày 25/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Ứng Hòa đã gửi Công văn số 348/CSĐT đến Bộ Thông tin và truyền thông đề nghị cung cấp các thông tin có liên quan đến cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành phần mềm Telegram. Ngày 08/01/2024 Cục Viễn thông thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Công văn số 71/CVT-CS trả lời với nội dung: "Telegram làm nền tảng nhắn tin, gọi điện, chia sẻ hình ảnh, âm thanh, video qua mạng Internet và được vận hành bởi công ty nước ngoài không có hiện diện pháp lý tại Việt Nam. Nền tảng này hiện nay chưa được quản lý theo các quy định pháp luật hiện hành trong lĩnh vực viễn thông, do đó, Bộ Thông tin và Truyền thông không có thông tin để cung cấp theo đề nghị của Quý Cơ quan."
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số : 36/CT - VKS ngày 03/4/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy đã truy tố bị cáo Ngô Văn Đ về tội : Làm nhục người khác - theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà :
Các bị cáo đều thừa nhận hành vi của mình như đã nêu trên;
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố cả về tội danh, nội dung cũng như điều luật, khoản áp dụng như trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với các bị cáo và giải quyết vụ án như sau :
- Về tội danh, áp dụng điều luật và mức hình phạt : Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 155, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Đ phạm tội “Làm nhục người khác”. Xử phạt Ngô Văn Đ từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự : Ngô Văn Đ và gia đình đã tự nguyện bồi thường tổn thất về tinh thần cho Kiều Thị Phương T số tiền 130.000.000 đồng, ông Kiều Văn Hà là người đại diện hợp pháp cho T đã nhận đủ tiền, chị T và ông Hà không yêu cầu bồi thường thêm, nên không giải quyết trong vụ án.
- Về Xử lý vật chứng : Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng do Đ giao nộp (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 10/4/2024 giữa cơ quan Công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa quản lý).
- Về án phí và quyền kháng cáo : Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 : Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo; người bị hại; những người đại diện cho người bị hại đều được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
Về tố tụng : Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên huyện Ứng Hòa cũng như Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa : Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với người bị hại là người chưa thành niên, do đó các cơ quan tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố và xét xử đều có người đại diện theo pháp luật của người bị hại tham gia theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Về hành vi của bị cáo : Tại cơ quan điều tra cũng như phiên tòa các bị cáo nhận tội như nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã nêu; lời nhận tội của các bị phù hợp với lời khai của người bị hại và những người làm chứng, vật chứng thu giữ được, phù hợp với những tài liệu khác được cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận : Tối 09/7/2023, Ngô Văn Đ và Kiều Thị Phương T gọi điện video qua phần mềm Messenger với nhau, theo đề nghị của Đ T đã quay ngực và bộ phận sinh dục của mình cho Đ xem thì Đ đã tự ý ghi lại màn hình cuộc gọi video rồi lưu vào điện thoại. Đến tháng 11/2023, do bức xúc việc T chia tay mình nên Đ đã sử dụng điện thoại di động thông qua các tranh mạng xã hội Facebook, Messenger đăng tải hình ảnh, gửi video hình ảnh bộ phận sinh dục của T cho Đào Thị Hương Ly, Nguyễn Thị Hồng và Nguyễn Ngọc Ánh. Ngoài ra Đ còn gửi video trên cho admin của nhóm chat "Động Sex" tại phần mềm Telegram với mục đích xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị T.
Về tội danh : Hành vi của Đ quay và gủi hình ảnh bộ phận sinh dục của T nên các trang mạng xã Hội và gủi cho bạn của T xem các hình ảnh trên thì hành vi đó đã cấu thành tội : Làm nhục người khác, vi phạm điểm e khoản 2 Điều 1155 của Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản luật áp dụng như nêu trong bản Cáo trạng là có căn cứ đúng pháp luật.
Xét về tính chất : Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng sấu đến đời sống, thuần phong mỹ tục của con người. Nên cũng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đủ để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết : Trước cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ra ăn năn hối cải; có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tách động đến gia đình bồi thường khắc phục hậu quả nên người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra thời hạn tạm giam của bị cáo là 03 tháng cũng đủ cảnh tỉnh răn đi bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ đã nêu trên, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng. Đối chiếu Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì không cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, bào đảm các nguyên tắc khoan hồng của chính sách pháp luật hình sự.
Hành vi của Ngô Văn Đ gửi video quay hình ảnh bộ phận sinh dục của Kiều Thị Phương T cho chị Nguyễn Thị Hồng, Đào Thị Hương Ly và chị Nguyễn Ngọc Ánh với tổng dung lượng của 03 video được thu giữ là 20,04 MB. Do vậy hành vi Ngô Văn Đ không đủ yếu tố cấu thành tội "Truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy" quy định tại Điều 326 - Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự : Ngô Văn Đ và gia đình đã tự nguyện bồi thường tổn thất về tinh thần cho Kiều Thị Phương T số tiền 130.000.000 đồng, ông Kiều Văn Hà là người đại diện hợp pháp cho T đã nhận đủ tiền, chị T và ông Hà không yêu cầu bồi thường thêm, nên không giải quyết trong vụ án.
Về xử lý vật chứng : 01 video tên 75364368 mp4, dài 2 phút 47 giây, được lưu trong 01 đĩa DVD màu vàng, nhãn hiệu Maxell do Kiều Thị Phương T giao nộp; 01 video tên 8059359555019869353 mp4, size 7.44 MB, dài 02 phút 47 giây được lưu giữ trong đĩa DVD-R nhãn hiệu Maxell do Nguyễn Thị Hồng giao nộp; 01 video tên 304703003836891097 mp4, size 7.44 MB dài 02 phút 48 giây được lưu trong đĩa DVD-R nhãn hiệu Maxell do Nguyễn Ngọc Ánh giao nộp được lưu theo hồ sơ vụ án. Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng do Đ giao nộp.
Về án phí, quyền kháng cáo : Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phi ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Buộc bị cáo Ngô Văn Đ phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm; bị cáo, người bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
Áp dụng : Điểm e khoản 2 Điều 155, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333, 420, 423, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
1. Tuyên bố bị cáo : Ngô Văn Đ phạm tội “Làm nhục người khác”.
2. Về hình phạt : Xử phạt bị cáo Ngô Văn Đ 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án (Ngày 25/4/2024).
Giao bị cáo Ngô Văn Đ cho Uỷ ban nhân dân xã Tân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3.Trách nhiệm dân sự : Ghi nhận việc thoả thuận bồi thường xong vê trách nhiệm dân sự giữa gia đình và bị cáo bồi thường cho người bị hại số tiền 130.000.000 đồng người bị hại và người đại diện đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì khác.
4. Về xử lý vật chứng : Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng do Đ giao nộp (Tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Công an chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 10/4/2024).
5. Về án phí : Buộc bị cáo Ngô Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
6.Về quyền kháng cáo : Bị cáo; người bị hại; những người đại diện hợp pháp của người bị hại đều được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, kể từ ngày bản án được giao hợp lệ hoặc được niêm yết tại ủy ban nhân dân nơi thường trú đối với người vắng mặt./.
| Nơi nhận : - TANDTP Hà Nội; - VKSND; Công an huyện Ứng Hòa; - Chi cục T.H.ADS huyện Ứng Hoà; - Bị cáo; người bị hại; - Những người đại diện hợp pháp cho người bị hại; - UBND xã Đội Bình, Ứng Hòa, Hà Nội; - Lưu : Hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thành T |