- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Minh V bà bị cáo Trần Thanh Tú phạm tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Minh V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Trần Thanh T(2) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự Xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/HS-ST Ngày: 10/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà H’ Loan và bà Đặng Thị Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2022/TLST- HS ngày 29 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/QĐ –HPT, ngày 24 tháng 4 năm 2023, đối với các bị cáo:
Phạm Minh V, tên gọi khác: Không, sinh ngày 19/3/1999 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: TDP 6, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Minh P; Sinh năm: 1970 và bà Tạ Thị H; Sinh năm: 1972 bị cáo có vợ Nguyễn Thị H; sinh năm: 2001, tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/7/2022 – Có mặt tại phiên tòa.
Trần Thanh T, tên gọi khác: không, sinh ngày 08/11/2004, tại tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Số 15 Từ Văn T, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Giết mổ gia súc; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Quốc P; Sinh năm: 1983 và bà Trần Thị Thu H; Sinh năm: 1984, bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2022 – Có mặt tại phiên tòa
Người bào chữa: Ông Phạm Quang L (vắng mặt) và bà Vi Thị A (có mặt), Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Nông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thế M, sinh năm 1999, địa chỉ: Thôn 01 xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Anh Phạm Văn T, sinh ngày 08/3/2005, địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1998, địa chỉ: Tổ dân phố 01, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông
(Đều vắng mặt).
Người làm chứng: Ông Bạch Quốc L, và bà Hoàng Thị T, cùng địa chỉ: Tổ dân phố 10, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
(Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 28/6/2022, Phạm Minh V mang theo ma tuý đá và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá cùng với V, T, D và một người nữ giới tên Tr (Đều chưa rõ nhân thân, lai lịch) ngồi ăn ở khu vực Hồ T thuộc thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý đá nên cả nhóm bàn bạc, thống nhất đến nhà nghỉ H thuộc tổ dân phố 10, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông để thuê phòng sử dụng ma tuý đá. Sau đó, T lấy xe mô tô đi đến nhà nghỉ T thuộc tổ dân phố 1, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông rủ Trần Thanh T đến tham gia sử dụng ma tuý cùng mọi người. Khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, V cùng với V, D và Tr đi xe taxi đến nhà nghỉ H thuê phòng 204 để tổ chức sử dụng ma tuý. Thuê phòng xong, V lấy trong người ra 01 (một) bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý và 10 (mười) tép ma tuý đá được đựng trong một túi nilon loại túi zipper để lên bàn rồi đợi T(1) và T(2) về cùng nhau sử dụng. Khoảng 04 giờ cùng ngày, T(1) và T(2) đến phòng, lúc này V và Tr đưa trước cho V số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) để trả tiền phòng. Do có việc phải giải quyết nên D không tham gia sử dụng ma tuý đá, mà đi về trước. Sau khi D đi về, V lấy ra 01 (một) tép ma tuý đá đổ hết vào nỏ thuỷ tinh của bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá, rồi cùng với T(1) và T(2) , V và Tr thay nhau sử dụng hết số ma tuý đá này. V tiếp tục lấy ra thêm 01 (một) tép ma tuý đá và đổ ½ số ma tuý để cho mọi người sử dụng, số ma tuý đá còn lại V cất giấu trên người. Các đối tượng sử dụng ma tuý đá đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì nghỉ rồi T(1), V và Tr đi về trước, còn V và T(2) nằm nghỉ lại trong phòng 204. Tại đây, V và T(2) bàn bạc thống nhất V cung cấp ma tuý đá cho T(2) đem đi bán, mỗi lần bán được ma tuý đá giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng)/01 tép V sẽ trả cho T(2) 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) tiền công thì T(2) đồng ý.
Khoảng 12 giờ cùng ngày, V gọi điện qua Messenger Facebook cho Phạm Văn T(3) nói T(3) đến phòng 204 nhà nghỉ H sửa điện thoại cho V, thì T(3) đồng ý. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Tuấn đi một mình đến phòng 204 gặp V và T(2). Sau khi T(3) sửa điện thoại xong, V thấy trong nỏ thuỷ tinh còn sót lại một ít ma tuý đá chưa sử dụng hết, nên rủ T(2) và T(3) ở lại phòng sử dụng ma tuý đá, rồi cùng với T(2) và T(3) thay nhau sử dụng hết số ma tuý đá này. Do thấy hết ma tuý đá trong nỏ thuỷ tinh, nên V lấy ra thêm 01 (một) tép ma tuý đá, cắt đổ ½ số ma tuý đá vào nỏ thuỷ tinh cho T(2) và T(3) sử dụng, số ma tuý đá còn lại V cất giấu trên người. Trong quá trình sử dụng ma tuý đá tại phòng 204, V liên lạc với Nguyễn Thị T(4) qua ứng dụng Messenger Facebook rủ T(4) đến nhà nghỉ H để sử dụng ma tuý, thì T(4) đồng ý. Do thấy trong phòng 204 có T(2) và T(3), không tiện sử dụng ma tuý đá cùng với T(4) nên V lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đi ra thuê thêm phòng 102 rồi đợi T(4) đến sử dụng cùng. Khoảng 30 phút sau, T(4) đến phòng 102 gặp V, tại đây V lấy ra 01 (một) tép ma tuý đá đổ hết vào nỏ thuỷ tinh, rồi cùng với T(4) sử dụng.
Khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma tuý đá nên Nguyễn Thế M nhắn tin qua Messenger Facebook cho Trần Hoàng U (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi U mua ma tuý đá để sử dụng. Lúc này, U gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger Facebook cho Trần Thanh T(2) hỏi mua 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) ma tuý đá cho Mạ, thì T(2) đồng ý bán và nhắn U nói M đến nhà nghỉ H gặp T(2) để mua ma tuý, U đồng ý và báo lại cho M biết. Sau đó, T(2) đi đến phòng số 102 nhà nghỉ H báo cho V biết về việc có người hỏi mua ma tuý, nên V đưa một túi nilon loại túi zipper, bên trong có chứa 07 (bảy) tép ma tuý đá cho T(2) mang đi bán. T(2) cầm số ma tuý đá trên đưa về phòng 204 nhà nghỉ H và lấy ra 01 (một) tép ma tuý đá mục đích để bán ma tuý cho Mạnh. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, M đi một mình đến phòng 204 nhà nghỉ H gặp T(2) để mua ma tuý. Lúc này, M đưa cho T(2) 01 (một) tờ tiền polime mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), T(2) T(2) cầm tiền trên tay rồi chuẩn bị đưa 01 tép ma tuý đá bán cho M, thì bị Cơ quan CSĐT bắt quả tang và thu giữ trong người T(2) 07 tép ma túy đá, đồng thời phát hiện bắt quả tang Phạm Minh V đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cùng với Nguyễn Thị T(4) tại phòng 102 nhà nghỉ H.
Tại bản kết luận giám định số 133/KL-KTHS ngày 04/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận:
+ Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon không màu, được hàn kín, kích thước (1,1 x 3,5)cm, thu giữ trên người Trần Thanh T(2) được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 01 gửi giám định là chất ma tuý, có khối lượng là 0,1152gam, là Methamphetamine.
+ Tinh thể màu trắng đựng trong 07 (bảy) túi nilon, thu giữ trên người Trần Thanh T(2) được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 02 gửi giám định đều là chất ma tuý, có khối lượng là 0,8893 gam, là Methamphetamine.
- Tại bản kết luận giám định số 134/KL-KTHS ngày 04/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận:
+ Tinh thể màu trắng bám dính trong 01 (một) túi nhựa cứng không màu, kích thước (1,6 x 03)cm, thu giữ của Phạm Minh V được niêm phong trong bì thư gửi giám định là chất ma tuý, có khối lượng là 0,0061 gam, là Methamphetamine. Mẫu tinh thể đã sử dụng hết cho công tác giám định.
+ Chất rắn màu trắng bên trong 01 (một) ống thuỷ tinh được uốn cong dài 14cm, đầu ống thuỷ tinh hình cầu đường kính 1,5cm, thu giữ của Phạm Minh V được niêm phong trong hộp giấy kích thước (09 x 05 x 8,5 x 27)cm gửi giám định là chất ma tuý, có khối lượng là 0,1890 gam, là Methamphetamine.
Kết quả xét nghiệm ma tuý, Phạm Minh V, Trần Thanh T(2), Nguyễn Thị T(4) và Phạm Văn T(3) đều dương tính với ma tuý Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Phạm Minh V khai nhận nguồn gốc toàn bộ số ma tuý đá nêu trên do Vương mua của một người nam giới tên Th (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) vào ngày 25/6/2022 với giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) Phạm Minh V và Trần Thanh T(2) đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nêu trên, lời khai của V và T(2) phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 80/CT-VKS-GN của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa truy tố bị cáo Phạm Minh V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Thanh T(2) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông truy tố các bị cáo là đúng, không oan.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phạm Minh V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Thanh T(2) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Áp dụng điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh V tù 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh V tù 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt đối với 02 tội. Tổng cộng bị cáo phải chấp hành từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Minh V.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh T(2) từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” .
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Thanh T(2).
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M01 hoàn trả, mặt sau có chữ ký của ông Nguyễn Quang V, Đỗ Văn D, Bùi Công G và có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, bên trong đựng: 01 (một) gói zipper chỉ đỏ, kích thước (04 x 06)cm, bên trong chứa 0,0923 gam ma túy (là khối lượng còn lại sau giám định); 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M02 hoàn trả, mặt sau có chữ ký của ông Nguyễn Quang V, Đỗ Văn D, Bùi Công G và có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, bên trong đựng: 01 (một) gói zipper chỉ đỏ, kích thước (04 x 06)cm, bên trong chứa 0,7626 gam ma túy (là khối lượng còn lại sau giám định); 01 (một) hộp giấy kích thước (09 x 05 x 8,5 x 27)cm, được niêm phong có chữ ký của ông Nguyễn Quang V, Đỗ Văn D, Bùi Công G và có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, bên trong đựng 01 (một) gói zipper chỉ đỏ, kích thước (04 x 06)cm, bên trong chứa 0,1463 gam ma túy (là khối lượng còn lại sau giám định); và 01 (một) vỏ chai nước ngọt Mirinda cao 21cm, nắp chai màu vàng được đục 02 lỗ tròn, một lỗ gắn ống hút màu đen đường kính 0,5cm, dài 25cm; 01 (một) phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 (một) bật lửa gas màu xanh, kích thước (7,4 x 02 x 1,5)cm, phía trên gắn lò xo được cuốn giấy bạc bên ngoài dài 2,5cm; 01 (một) bật lửa gas màu đỏ, kích thước (7,5 x 02 x 0,8)cm; 01 (một) dao lam có chữ Croma, kích thước (4,3 x 2,2)cm.
Tịch thu sung, nộp ngân sách Nhà nước đối với: 01 (một) phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 (một) ĐTDĐ hiệu iphone 8 Plus màu hồng, số IMEI: 356775080566505 gắn sim số 0933144649; 01 (một) phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 (một) ĐTDĐ hiệu iphone 7 Plus màu đen, số IMEI: 355346085367884, gắn sim số 0889747972.
Số tiền 500.000 đồng Nguyễn Thế M mua ma túy của Tú và số tiền 300.000 đồng do Vũ, Trang đưa cho Phạm Minh V để trả tiền phòng.
Trả lại cho Phạm Minh V số tiền 200.000 đồng không liên quan đến vụ án.
Tại phiên toà các bị cáo không bào chữa về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 28/6/2022 tại phòng 204, 201 nhà nghỉ H thuộc tổ dân phố 10, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông, Phạm Minh V đã có hành vi tổ chức cho T(1),V, Tr (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) và Trần Thanh T(2) sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, V tổ chức cho Phạm Văn T(3) và Trần Thanh T(2) sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine. Khoảng 30 phút sau cùng ngày Phạm Minh V tiếp tục tổ chức cho Nguyễn Thị T(4) sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine.
Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Thanh T(2) cầm 07 tép ma túy Methamphetamine do Phạm Minh V đưa, rồi Tú đi bán 01 tép ma túy Methamphetamine với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) cho Nguyễn Thế M. Tổng khối lượng ma túy Methamphetamine V đưa cho T(2) đã bán và sẽ bán là 1,0045 gam.
Như vậy đã có đủ căn cứ để xác định Phạm Minh V phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Trần Thanh T(2) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;”
c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;
...”.
Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
\...”.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo V là rất nghiêm trọng và hành vi của bị cáo T(2) là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, Các bị cáo phải biết hành vi của mình đã xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ra những hệ lụy xấu ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe con người, là tiền đề cho những tệ nạn xã hội khác, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy, tác động xấu đến đời sống xã hội. Nhưng với ý thức coi thường pháp luật, các bị cáo đã cố ý thực hiện.
Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” các bị cáo V và T(2) phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc và cấu kết chặt chẽ đều thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành. Bị cáo V là người khởi xướng việc mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo T(2) là người trực tiếp thực hiện hành vi bán ma túy, tại thời điểm bị cáo T(2) thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi. Do đó cần phân hóa trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để đảm bảo tính răn đe cũng như mục đích của hình phạt. Cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhằm răn đe giáo dục các bị cáo thành người có ích cũng như phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của các bị cáo Phạm Minh V thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo T(2) phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Riêng đối với bị cáo Phạm Minh V là người khởi xướng và có hành vi xúi giục bị cáo T(2) thực hiện việc bán trái phép chất ma túy do đó phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự xúi giục người chưa thành niên phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Vương và bị cáo T(2) không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M01 hoàn trả, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, bên trong đựng 01 (một) gói zipper chỉ đỏ, kích thước (04 x 06)cm, bên trong chứa 0,0923 gam ma túy (là khối lượng còn lại sau giám định); 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M02 hoàn trả, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, bên trong đựng: 01 (một) gói zipper chỉ đỏ, kích thước (04 x 06)cm, bên trong chứa 0,7626 gam ma túy (là khối lượng còn lại sau giám định); 01 (một) hộp giấy kích thước (09 x 05 x 8,5 x 27)cm, được niêm phong có, bên trong đựng: 01 (một) gói zipper chỉ đỏ, kích thước (04 x 06)cm, bên trong chứa 0,1463 gam ma túy (là khối lượng còn lại sau giám định); 01 (một) vỏ chai nước ngọt Mirinda cao 21cm, nắp chai màu vàng được đục 02 lỗ tròn, một lỗ gắn ống hút màu đen đường kính 0,5cm, dài 25cm; 01 (một) phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 (một) bật lửa gas màu xanh, kích thước (7,4 x 02 x 1,5)cm, phía trên gắn lò xo được cuốn giấy bạc bên ngoài dài 2,5cm; 01 (một) bật lửa gas màu đỏ, kích thước (7,5 x 02 x 0,8)cm; 01 (một) dao lam có chữ Croma, kích thước (4,3 x 2,2)cm.
Tịch thu sung, nộp ngân sách Nhà nước đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 8 Plus màu hồng, số IMEI: 356775080566505 gắn sim số 0933144649; 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 Plus màu đen, số IMEI: 355346085367884, gắn sim số 0889747972; Số tiền 500.000 đồng Nguyễn Thế M mua ma túy của T(2) và số tiền 300.000 đồng do V, Tr đưa cho Phạm Minh V để trả tiền phòng.
Trả lại cho Phạm Minh Vương: Số tiền 200.000 đồng không liên quan đến vụ án là phù hợp.
. Đối với Phạm Văn Tuấn, Nguyễn Thị T(4) và Trần Thanh T(2) có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Hiện Công an thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 00110/QĐ-XPHC; 00110/QĐ - XPHC ngày 07/7/2022 về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma tuý" quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, số tiền xử phạt 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), hiện Phạm Văn T(3), Nguyễn Thị T(4) đã nộp phạt số tiền này theo quy định pháp luật. Ngày 12/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông có Công văn số 544/CV-VKS-GN về việc đề nghị Công an thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Thanh T(2) là phù hợp.
Đối với Nguyễn Thế M có hành vi mua trái phép chất ma tuý của Trần Thanh T(2), mục đích để sử dụng. Tuy nhiên, Nguyễn Thế M chưa nhận được ma tuý. Ngoài ra, kết quả test ma tuý đối với Nguyễn Thế M âm tính với các chất ma tuý, nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ xử lý là phù hợp.
Đối với nhà nghỉ H, là địa điểm xảy ra vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý. Chủ nhà nghỉ là bà bà Hoàng Thị T, ông Bạch Quốc L đã chủ động phát hiện, tố giác tội phạm cho Cơ quan CSĐT. Nên không cấu thành tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 256 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Đối với Vũ, T(1), D và Tr là người sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà nghỉ H cùng với Phạm Minh V; Th là người bán ma túy cho Phạm Minh V; Trần Hoàng U là người giới thiệu cho Nguyễn Thế M mua ma tuý của Trần Thanh T(2). Hiện Cơ quan CSĐT chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng trên nên Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh, làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp và có căn cứ pháp luật.
. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt là có căn cứ nên cần chấp nhận.
. Về án phí: Các bị cáo V và T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Minh V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Trần Thanh T(2) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a, điểm b điểm c khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Minh V 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 07 tháng 7 năm 2022).
Áp dụng khoản 1 Điều 251 điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Minh V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 07 tháng 7 năm 2022).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Phạm Minh Vương.
Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt đối với 02 tội. Tổng cộng buộc bị cáo Phạm Minh V phải chấp hành 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 07 tháng 7 năm 2022).
Áp dụng khoản 1 Điều 251 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, các Điều 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Trần Thanh T(1) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 27 tháng 8 năm 2022).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Trần Thanh T(2).
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, b, c khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M01 hoàn trả, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, bên trong đựng 01 (một) gói zipper chỉ đỏ, kích thước (04 x 06)cm, bên trong chứa 0,0923 gam ma túy (là khối lượng còn lại sau giám định); 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M02 hoàn trả, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, bên trong đựng: 01 (một) gói zipper chỉ đỏ, kích thước (04 x 06)cm, bên trong chứa 0,7626 gam ma túy (là khối lượng còn lại sau giám định); 01 (một) hộp giấy kích thước (09 x 05 x 8,5 x 27)cm, được niêm phong có, bên trong đựng: 01 (một) gói zipper chỉ đỏ, kích thước (04 x 06)cm, bên trong chứa 0,1463 gam ma túy (là khối lượng còn lại sau giám định); và 01 (một) vỏ chai nước ngọt Mirinda cao 21cm, nắp chai màu vàng được đục 02 lỗ tròn, một lỗ gắn ống hút màu đen đường kính 0,5cm, dài 25cm; 01 (một) phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 (một) bật lửa gas màu xanh, kích thước (7,4 x 02 x 1,5)cm, phía trên gắn lò xo được cuốn giấy bạc bên ngoài dài 2,5cm; 01 (một) bật lửa gas màu đỏ, kích thước (7,5 x 02 x 0,8)cm; 01 (một) dao lam có chữ Croma, kích thước (4,3 x 2,2)cm.
(Có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 27/11/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa và chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa)
Tịch thu sung, nộp ngân sách Nhà nước đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone 8 Plus màu hồng, số IMEI: 356775080566505 gắn sim số 0933144649; 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone 7 Plus màu đen, số IMEI: 355346085367884, gắn sim số 0889747972.
Số tiền 500.000 đồng Nguyễn Thế M mua ma túy của Trần Thanh T(2) và số tiền 300.000 đồng do V, Tr đưa cho Phạm Minh V để trả tiền phòng.
Trả lại cho Phạm Minh V số tiền 200.000 đồng.
(Hiện đang được tạm giữ tại tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Phạm Minh V, Trần Thanh (T2), mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đắk Nông;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Đắk Nông;
- Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
- Phòng HSNVCS thành phố Gia Nghĩa;
- VKSND thành phố Gia Nghĩa;
- CA thành phố Gia Nghĩa;
- THADS thành phố G;
- Các bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
Đỗ Văn Thành
- Lưu: HS,VP.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng HSNVCS CA tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk R’lấp; - CA huyện Đắk R’lấp; - THADS huyện Đắk R’lấp; - Bị cáo; - Bị hại; - NCQLNVLQ; - Lưu: HS,VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Văn Thành |