- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự bị cáo Hồ Văn Sơn - phạm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự (điều 332 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Minh Túc phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 259 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PH, TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2022/HS-ST Ngày 02-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thành Nghĩa.
2. Bà Phạm Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Trúc, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 3 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2022/TLST- HS, ngày 14 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 74/2022/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Hồ Văn S, sinh ngày 24/5/1998 tại huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn Lộc Tr, xã Phước S, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn Th và bà Giả Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 11/3/2019 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phước S, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Không có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng” với số tiền 2.000.000 đồng; nhân thân: Ngày 13 tháng 3 năm 2020 bị Công an thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” với số tiền 750.000 đồng; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng.
1. Hồ Văn Th, sinh năm 1969; nơi cư trú thôn Lộc Tr, xã Phước S, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; có mặt.
2. Ngô Phúc Tr, sinh năm 1990; nơi cư trú thôn Lộc Tr, xã Phước S, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; có mặt.
3. Hồ Thị Mỹ T, sinh năm 1993; nơi cư trú thôn Lộc Tr, xã Phước S, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Kế hoạch số 03/KH-UBND ngày 22/01/2019 của Ủy ban nhân dân xã Phước S, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định về việc gọi công dân nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự năm 2019 thì bị cáo Hồ Văn S trúng tuyển và được lệnh gọi công dân nhập ngũ nghĩa vụ quân sự năm 2019. Ngày 25/01/2019, Cán bộ xã Phước S đến nhà để giao Lệnh gọi công dân nhập ngũ cho bị cáo Hồ Văn S. Do bị cáo Hồ Văn S không có mặt tại địa phương nên chị Hồ Thị Mỹ Trinh là chị ruột của bị cáo Hồ Văn S đã nhận thay Lệnh gọi công dân nhập ngũ cho bị cáo Hồ Văn S. Sau đó, bị cáo Hồ Văn S được gia đình thông báo lại và biết đúng 04 giờ 00 phút ngày 20/02/2019 bị cáo Hồ Văn S phải có mặt tại Ủy ban nhân dân xã Phước S, huyện Tuy Ph để nhập ngũ nhưng bị cáo Hồ Văn S đã trốn nghĩa vụ quân sự năm 2019. Ngày 11/3/2019, ông Nguyễn Đình Giới là Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự xã Phước S lập biên bản vi phạm hành chính và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phước S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Hồ Văn S về hành vi“Không có mặt đúng thời gian, địa điểm tập trung ghi trong lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng” với số tiền 2.000.000 đồng; bị cáo Hồ Văn S đã ký tên vào biên bản vi phạm hành chính và nộp phạt vào ngày 11/3/2019.
Theo Kế hoạch số 02/KH-UBND ngày 15/01/2020 của Ủy ban nhân dân xã Phước S về việc gọi công dân nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự năm 2020 thì bị cáo Hồ Văn S tiếp tục trúng tuyển và được lệnh gọi công dân nhập ngũ nghĩa vụ quân sự năm 2020. Ngày 22/01/2020, Cán bộ xã Phước S đến nhà để giao Lệnh gọi công dân nhập ngũ cho bị cáo Hồ Văn S. Do bị cáo Hồ Văn S không có mặt tại địa phương nên ông Hồ Văn Thái là cha đẻ của bị cáo Hồ Văn S đã nhận thay Lệnh gọi công dân nhập ngũ cho bị cáo Hồ Văn S. Sau đó, bị cáo Hồ Văn S được gia đình thông báo lại và biết đúng 04 giờ 00 phút ngày 11/02/2020 bị cáo Hồ Văn S phải có mặt tại Ủy ban nhân dân xã Phước S, huyện Tuy Ph để nhập ngũ nhưng ngày 02/02/2020, bị cáo Hồ Văn S đi vào thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục trốn tránh nghĩa vụ quân sự năm 2020.
Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKS-TP ngày 09 tháng 02 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Hồ Văn S về tội “Trốn tránh nghĩa vụ quân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 332 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Văn S phạm tội "Trốn tránh nghĩa vụ quân sự”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 332, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Hồ Văn S từ 06 đến 09 tháng tù.
Bị cáo Hồ Văn S không tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát; bị cao yêu cầu Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Hồ Văn S nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Ph, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời luận tội của Kiểm sát viên đã căn cứ vào các chứng cứ mà Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập được để chứng minh vào ngày 20 tháng 02 năm 2019 bị cáo Hồ Văn S đã thực hiện hành vi không chấp hành Lệnh gọi nhập ngũ của Ban chỉ huy quân sự huyện Tuy Ph. Hành vi trên của bị cáo đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phước S, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi“Không có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng” với số tiền 2.000.000 đồng. Ngày 11 tháng 02 năm 2020, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi không chấp hành Lệnh gọi nhập ngũ của Ban chỉ huy quân sự huyện Tuy Ph.
Bị cáo Hồ Văn S không đưa ra chứng cứ nào để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình mà bị cáo thừa nhận trong năm 2019, năm 2020 bị cáo đã thực hiện hành vi trốn tránh không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên lời khai của bị cáo là có căn cứ.
Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có khả năng nhận thức được nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân, nhận thức được hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ là hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự. Nhận thức được vậy, nhưng bị cáo không có ý thức tuân theo pháp luật, thiếu tinh thần trách nhiệm với Tổ quốc nên vào năm 2019 bị cáo thực hiện hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại Điều 10 của Luật nghĩa vụ quân sự. Hành vi trên của bị cáo đã bị xử phạt hành chính nhưng vào năm 2020 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội“Trốn tránh nghĩa vụ quân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 332 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ nghĩa vụ quân sự theo quy định của Nhà nước, xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính Nhà nước về đăng ký và thực hiện nghĩa vụ quân sự; gây mất trật tự, an ninh chính trị ở địa phương, làm tiền đề xấu cho công dân tại địa phương trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo là người có nhân thân xấu, cụ thể ngày 13 tháng 3 năm 2020 bị Công an thành phố Đ H, tỉnh Q B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” với số tiền 750.000 đồng.
Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và nhân thân bị cáo như trên lẽ ra xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc nhưng xét thấy bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo cũng có thể giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.
Xét về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn S phạm tội “Trốn tránh nghĩa vụ quân sự”.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 332; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
3. Xử phạt bị cáo Hồ Văn S 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành hình phạt tù.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hồ Văn S phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 02 tháng 3 năm 2022). Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh Bình Định;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định;
- Công an huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định;
- Bị cáo;
Văn Công Minh
- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN PHÙ MỸ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 61/2016/HSST Ngày: 30 -11-2016
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Tiến Dũng.
2. Ông Trần Anh Tuấn.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Dư-Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường-Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2016 tại Hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn Bình Dương, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 61/2016/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2016 đối với bị cáo:
Hà Phúc Thuận, sinh năm 1992; tại thôn Dương Liễu Tây, thị trấn Bình Dương, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định; trú tại thôn Dương Liễu Tây, thị trấn Bình Dương, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp công nhân; trình độ văn hóa 09/12; con ông Hà Hữu Hóa, sinh năm 1960 và bà La Thị Hương, sinh năm 1964; Vợ, con chưa có; tiền sự: Ngày 13 tháng 9 năm 2013 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Bình Dương ra quyết định số 73/QĐ-CTUBND xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 500.000 đồng về hành vi "Không có mặt đúng thời gian, địa điểm quy định ghi trong lệnh nhập ngũ mà không có lý do chính đáng”. Ngày 11 tháng 02 năm 2014 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Bình Dương ra quyết định số 54/QĐ-CTUBND xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi "Không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng”; tiền án không; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Hà Phúc Thuận bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Trong các năm 2013, 2014, 2015 và 2016, Hội đồng nghĩa vụ quân sự thị trấn Bình Dương, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, tổ chức họp xét duyệt lập danh sách các thanh niên trên địa bàn thị trấn Bình Dương, huyện Phù Mỹ đủ điều kiện gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự. Trong đó có bị cáo Hà Phúc Thuận, sinh năm 1992, ở thôn Dương Liễu Tây, thị trấn Bình Dương, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, nhưng các lần Hội đồng nghĩa vụ quân sự phát giấy gọi khám tuyển nghĩa vụ quân sự Hà Phúc Thuận không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Bị cáo Hà Phúc Thuận có lệnh nhập ngũ số 12 ngày 10 tháng 8 năm 2013 của Ban chỉ huy quân sự huyện Phù Mỹ nhập ngũ vào quân đội đợt 2 năm 2013. Ngày 15 tháng 8 năm 2013, Hội đồng nghĩa vụ quân sự, Hội đồng khám tuyển nghĩa vụ quân sự trấn Bình Dương, huyện Phù Mỹ đã cử cán bộ đến nhà bị cáo Thuận để giao lệnh gọi nhập ngũ, nhưng Thuận không có mặt ở nhà để nhận lệnh, mẹ của bị cáo Thuận là bà La Thị Hương nhận lệnh, tổ công tác đã lập biên bản. Ngày 03 tháng 9 năm 2013, Công an thị trấn Bình Dương, huyện Phù Mỹ đến nhà bị cáo Hà Phúc Thuận làm việc và lập biên bản về việc đối tượng vắng mặt tại địa phương. Ngày 13 tháng 9 năm 2013, UBND thị trấn Bình Dương lập biên bản vi phạm hành chính và ban hành Quyết định số 73 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng đối với bị cáo Hà Phúc Thuận theo quy định của Luật nghĩa vụ quân sự với mức phạt 500.000 đồng, nhưng bị cáo Hà Phúc Thuận không chấp hành.
- Lần thứ hai: Bị cáo Hà Phúc Thuận có lệnh điều động số 16 ngày 10 tháng 11 năm 2014 của Ban chỉ huy quân sự huyện Phù Mỹ để khám sức khỏe đợt 1 năm 2015. Ngày 14 tháng 11 năm 2014, UBND thị trấn Bình Dương, huyện Phù Mỹ đã cử cán bộ đến nhà bị cáo Hà Phúc Thuận để giao lệnh, nhưng bị cáo Hà Phúc Thuận không có mặt ở nhà để nhận lệnh, mẹ của bị cáo Hà Phúc Thuận là bà La Thị Hương nhận lệnh và cam đoan gọi Thuận về khám, tổ công tác đã lập biên bản. Bị cáo Hà Phúc Thuận không thực hiện lệnh điều động khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự số 16 của Ban chỉ huy quân sự huyện Phù Mỹ mà cố tình lẫn tránh, vắng mặt, không chấp hành theo quy định của Luật nghĩa vụ quân sự. Ngày 07 tháng 02 năm 2015, UBND thị trấn Bình Dương lập biên bản vi phạm hành chính và ban hành Quyết định số 38 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng với mức phạt 1.000.000 đồng, nhưng bị cáo Hà Phúc Thuận không chấp hành.
- Lần thứ ba: Bị cáo Hà Phúc Thuận có lệnh số 82/QS ngày 26 tháng 10 năm 2015 của Ban chỉ huy quân sự huyện Phù Mỹ để khám sức khỏe đợt 1 năm 2016. Ngày 03 tháng 11 năm 2015, tổ công tác UBND thị trấn Bình Dương đã trực tiếp đến nhà bị cáo Hà Phúc Thuận giao lệnh điều động khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự, nhưng bị cáo Hà Phúc Thuận không có ở nhà, gia đình bị cáo Hà Phúc Thuận không nhận lệnh nhưng vẫn không thông báo cho Thuận biết. Ngày 30 tháng 6 năm 2016, UBND thị trấn Bình Dương lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng đối với Thuận và lập hồ sơ đề nghị các cơ quan chức năng xem xét, xử lý đối với bị cáo Hà Phúc Thuận về hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự.
Tại Bản cáo trạng số 56/QĐ-KSĐT ngày 27 tháng 10 năm 2016, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Hà Phúc Thuận về tội "Trốn tránh nghĩa vụ quân sự” theo khoản 1 Điều 259 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hà Phúc Thuận về tội "Trốn tránh nghĩa vụ quân sự”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 259; các điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hà Phúc Thuận từ 09 đến 12 tháng tù.
Bị cáo Hà Phúc Thuận không tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát, chỉ yêu cầu Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Trong Lời luận tội, Kiểm sát viên đã căn cứ vào các chứng cứ mà Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập được để chứng minh bị cáo Hà Phúc Thuận đã thực hiện hành vi không chấp hành Lệnh gọi nhập ngũ số 12/QS ngày 10 tháng 8 năm 2013 của Ban chỉ huy quân sự huyện Phù Mỹ, hành vi trên của bị cáo bị lập biên bản vi phạm hành chính ngày 09 tháng 9 năm 2013, đến ngày 13 tháng 9 năm 2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Bình Dương ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 500.000 đồng về hành vi "Không có mặt đúng thời gian, địa điểm quy định ghi trong lệnh nhập ngũ mà không có lý do chính đáng”. Ngày 05 tháng 12 năm 2013, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi không chấp hành Lệnh điều động khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự số 16/QS ngày 29 tháng 10 năm 2013 của Ban chỉ huy quân sự huyện Phù Mỹ, hành vi trên của bị cáo bị lập biên bản vi phạm hành chính ngày 10 tháng 02 năm 2014. đến ngày 11 tháng 02 năm 2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Bình Dương ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi "Không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng”. Ngày 04 tháng 12 năm 2014, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi không chấp hành Lệnh điều động khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự số 16/QS ngày 10 tháng 11 năm 2014 của Ban chỉ huy quân sự huyện Phù Mỹ, hành vi trên của bị cáo bị lập biên bản vi phạm hành chính ngày 06 tháng 02 năm 2015, đến ngày 07 tháng 02 năm 2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Bình Dương ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi "Không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng”. Ngày 19 tháng 11 năm 2015, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi không chấp hành Lệnh điều động khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự số 82/QS ngày 26 tháng 10 năm 2015 của Ban chỉ huy quân sự huyện Phù Mỹ, hành vi trên của bị cáo bị lập biên bản vi phạm hành chính ngày 30 tháng 6 năm 2016. Lời luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bởi lẽ, các chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi của bị cáo đã được Cơ quan điều tra thu thập theo đúng thủ tục, trình tự mà Bộ luật tố tụng hình sự qui định.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không đưa ra chứng cứ nào để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, để bác bỏ toàn bộ hay một phần lời buộc tội của Kiểm sát viên mà thừa nhận trong năm 2013, năm 2014, năm 2015 bị cáo đã thực hiện hành vi trốn tránh không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ và không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự của Ban chỉ huy quân sự huyện Phù Mỹ. Các lần vi phạm hành chính trên thì bị cáo đều bị Chủ tịch ủy ban nhân dân thị trấn Bình Dương ra Quyết định xử phạt hành chính nhưng đến ngày 19 tháng 11 năm 2015, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi không chấp hành Lệnh điều động khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự số 82/QS ngày 26 tháng 10 năm 2015 của Ban chỉ huy quân sự huyện Phù Mỹ. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên lời khai của bị cáo là có căn cứ.
Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có khả năng nhận thức được nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân, nhận thức được hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự là hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự. Nhận thức được vậy, nhưng bị cáo không có ý thức tuân theo pháp luật, thiếu tinh thần trách nhiệm với Tổ quốc nên bị cáo thực hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại Điều 10 của Luật nghĩa vụ quân sự. Hành vi trên của bị cáo đã bị xử phạt hành chính mà bị cáo tiếp tục vi phạm nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trốn tránh nghĩa vụ quân sự”được quy định tại khoản 1 Điều 259 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ nghĩa vụ quân sự theo quy định của Nhà nước, xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính Nhà nước về đăng ký và thực hiện nghĩa vụ quân sự, gây mất trật tự, an ninh chính trị ở địa phương, làm tiền đề xấu cho công dân tại địa phương trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.
Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và nhân thân bị cáo như trên lẽ ra xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc nhưng xét thấy bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo cũng có thể giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm.
Xét về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 22 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Hà Phúc Thuận phải nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hà Phúc Thuận phạm tội “Trốn tránh nghĩa vụ quân sự”.
Áp dụng khoản 1 Điều 259; điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Phúc Thuận 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 22 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Hà Phúc Thuận phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 30 tháng 11 năm 2016). Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ -TAND tỉnh Bình Định;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh Bình Định; -STP tỉnh Bình Định; -VKSND huyện Phù Mỹ; -CA huyện Phù Mỹ; -CCTHADS huyện Phù Mỹ; -Bị cáo; -Lưu hồ sơ vụ án.
Văn Công Minh TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN TUY PH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 08/2021/HS-ST Ngày: 29-11-2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu.
2. Bà Trần Thị Minh Thâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Trúc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sang-Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2021/TLST-HS, ngày 05 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 09/2021/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 10 năm 2021 và Thông báo chuyển thời gian xét xử số 148/2021/TB-TA, ngày 09 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Dương Minh Túc, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2001, tại huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; nơi cư trú thôn Thanh Huy 2, xã Phước An, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Đông (Chết) và bà Phạm Thị Ánh Tuyết; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Bùi Đức Nhân, sinh năm 1996 (Chết).
Nơi cư trú: Thôn Ngọc Thạnh 2, xã Phước An, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định.
Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Bùi Đức Nhân: Bà Bùi Thị Phương, sinh năm 1965; nơi cư trú thôn Ngọc Thạnh 2, xã Phước An, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định là người trực tiếp nuôi dưỡng anh Bùi Đức Nhân-đại diện theo pháp luật; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Đặng Thanh Trà, sinh năm 1980; có mặt.
2. Chị Đặng Thị Hiếu, sinh năm 1983; vắng mặt.
Đồng trú tại: Khu phố Thịnh Văn 2, thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định.
3. Anh Dương Minh Đắc, sinh năm 1993; có mặt.
Nơi cư trú: Thôn Thanh Huy 2, xã Phước An, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 12 tháng 02 năm 2021, bị cáo Dương Minh Túc không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại BLADE, dung tích xi lanh 109cm3, biển số 77G1-650.63 thuộc quyền sở hữu của anh Dương Minh Đắc là anh ruột của bị cáo chở anh Bùi Đức Nhân ngồi phía sau xe mô tô đi trên đường bê tông theo hướng từ thôn Ngọc Thạnh 1, xã Phước An, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định đến nhà ở của bị cáo tại thôn Thanh Huy 2, xã Phước An, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định. Khi bị cáo điểu khiển xe mô tô trên đến đoạn đường thuộc thôn An Hòa 1, xã Phước An, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định với tốc độ khoảng 60 đến 70km/h thì cùng lúc này, anh Đặng Thanh Trà điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại SH125I, biển số 77L1-776.08 chở vợ là chị Đặng Thị Hiếu và hai người con tham gia giao thông trên tuyến đường trên theo hướng ngược chiều. Khi bị cáo phát hiện thấy xe mô tô của anh Đặng Thanh Trà đang đến gần, bị cáo cho xe mô tô của bị cáo hãm phanh đột ngột nên xe mô tô do bị cáo điều khiển chạy loạng choạng sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều, dẫn đến va chạm với xe mô tô do anh Đặng Thanh Trà điều khiển. Sau khi va chạm, xe mô tô của anh Đặng Thanh Trà ngã tại chỗ trên phần đường bên phải theo chiều đi; xe mô tô của bị cáo điều khiển tiếp tục chạy loạng choạng một đoạn rồi ngã trên phần đường bên phải theo chiều đi trước đó. Hậu quả, anh Bùi Đức Nhân bị thương tích được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định cấp cứu đến 22 giờ cùng ngày thì anh Bùi Đức Nhân chết.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 51/PC09 ngày 18 tháng 02 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định kết luận nguyên nhân anh Bùi Đức Nhân chết là do chấn thương sọ não.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định đã tạm giữ và xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô biển số 77G1-650.63 cho chủ sở hữu là anh Dương Minh Đắc và trả lại chiếc xe mô tô biển số 77L1-776.08 cho chủ sở hữu là anh Đặng Thanh Trà.
Cáo trạng số 58/CT-VKS-TP ngày 25 tháng 9 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Dương Minh Túc về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Minh Túc phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Dương Minh Túc với mức hình phạt từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại cơ quan điều tra, bị cáo và vợ chồng anh Đặng Thanh Trà, chị Đặng Thị Hiếu đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do tính mạng của anh Bùi Đức Nhân bị xâm phạm. Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện hợp pháp của bị hại anh Bùi Đức Nhân không yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Bị cáo Dương Minh Túc nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Ph, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong lời luận tội Kiểm sát viên đã căn cứ vào các chứng cứ mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Ph đã thu thập và đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa để xác định vào khoảng 11 giờ ngày 12 tháng 02 năm 2021, bị cáo Dương Minh Túc không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 77G1-650.63 có dung tích xi lanh 109cm3 chở anh Bùi Đức Nhân ngồi phía sau. Khi bị cáo điểu khiển xe mô tô trên đến đoạn đường bê tông thuộc thôn An Hòa 1, xã Phước An, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định thì cùng lúc này, anh Đặng Thanh Trà điều khiển xe mô tô biển số 77L1-776.08 chở vợ là chị Đặng Thị Hiếu và hai người con tham gia giao thông trên tuyến đường trên theo hướng ngược chiều. Khi bị cáo phát hiện thấy xe mô tô của anh Đặng Thanh Trà đang đến gần, bị cáo cho xe mô tô của bị cáo hãm phanh đột ngột nên xe mô tô do bị cáo điều khiển chạy loạng choạng sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều, dẫn đến va chạm với xe mô tô do anh Đặng Thanh Trà điều khiển. Sau khi va chạm, xe mô tô của anh Đặng Thanh Trà ngã tại chỗ trên phần đường bên phải theo chiều đi; xe mô tô của bị cáo điều khiển tiếp tục chạy loạng choạng một đoạn rồi ngã trên phần đường bên phải theo chiều đi trước đó. Hậu quả, anh Bùi Đức Nhân bị thương tích được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định cấp cứu đến 22 giờ cùng ngày thì anh Bùi Đức Nhân chết. Lời luận tội của Kiểm sát viên có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận, bởi lẽ các chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo là những chứng cứ có thật được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định.
Bị cáo Dương Minh Túc không tranh luận gì với Kiểm sát viên và cũng không đưa ra chứng cứ nào để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình mà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ án, phù hợp với kết luận giám định pháp y và phù hợp với những chứng cứ khác đã được thu thập nên lời khai của bị cáo có căn cứ.
Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Dương Minh Túc là người có đủ điều kiện để nhận thức được phương tiện xe mô tô tham gia giao thông trên đường là nguồn nguy hiểm cao độ, nếu người điều khiển xe mô tô không tuân thủ các quy định của Luật giao thông đường bộ sẽ gây hậu quả đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Nhận thức được như vậy nhưng khi bị cáo điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ nhưng chưa có giấy phép lái xe, không làm chủ được tốc độ, đi không đúng phần đường quy định. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật giao thông đường bộ. Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ trên của bị cáo đã gây ra hậu quả nghiêm trọng là xâm phạm đến tính mạng của anh Bùi Đức Nhân nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tính mạng của con người, là một trong những khách thể quan trọng được Bộ luật hình sự bảo vệ mà còn gây mất trật tự, an toàn giao thông.
Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện lẽ ra xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc nhưng xét thấy bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do tính mạng của bị hại anh Bùi Đức Nhân bị xâm phạm; người đại diện hợp pháp của bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật mà bị cáo đã phạm. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng có thể giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; giáo dục bị cáo tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do tính mạng của anh Bùi Đức Nhân bị xâm phạm. Bà Bùi Thị Phương là người đại diện hợp pháp của bị hại anh Bùi Đức Nhân không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Xét về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Dương Minh Túc phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với anh Dương Minh Đắc là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 77G1-650.63 mà bị cáo Dương Minh Túc điều khiển tham gia giao thông gây tai nạn dẫn đến hậu quả anh Bùi Đức Nhân chết. Tuy nhiên vào ngày 12 tháng 02 năm 2021, anh Dương Minh Đắc để chiếc xe mô tô trên ở nhà thì bị cáo Dương Minh Túc tự ý lấy xe mô tô trên để tham gia giao thông; anh Dương Minh Đắc không giao xe mô tô trên cho bị cáo điều khiển tham gia giao thông nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Dương Minh Đắc đối với tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 264 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Dương Minh Đắc là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Dương Minh Túc phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Dương Minh Túc 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 29 tháng 11 năm 2021).
Giao bị cáo Dương Minh Túc cho Ủy ban nhân dân xã Phước An, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Dương Minh Túc thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Dương Minh Túc cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Dương Minh Túc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bà Bùi Thị Phương là người đại diện hợp pháp của bị hại anh Bùi Đức Nhân không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xét.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Dương Minh Túc phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo Dương Minh Túc; bà Bùi Thị Phương là người đại diện hợp pháp của bị hại anh Bùi Đức Nhân; anh Đặng Thanh Trà, anh Dương Minh Đắc là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 29 tháng 11 năm 2021). Chị Đặng Thị Hiếu là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vĩnh Mậu Trần Thị Minh Thâm
Văn Công Minh
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định; TÒA - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; - Công an huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN Văn Công Minh |