vanban.org

Bản án 66/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 04/10/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Công T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2018/HS-ST ngày 03-7-2018 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: khoản 1 Điều 332; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Phạm Công T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trốn tránh nghĩa vụ quân sự”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Công T - phạm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự (điều 332 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Công T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2018/HS-ST ngày 03-7-2018 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
  • Căn cứ chính? Điều 332 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2018/HS-PT
Ngày: 04-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Năm

Các Thẩm phán:

Bà Trần Thị Bé

Bà Phạm Thị Thu Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Trang là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Lương Thanh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 64/2018/TLPT-HS ngày 15 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo Phạm Công T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2018/HS-ST ngày 03 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phạm Công T, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1997 tại Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: tổ dân phố V, thị trấn S, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Thanh M và bà Phạm Thị Kim A; Vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 15/02/2017 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi vi phạm quy định về nhập ngũ; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Phạm Thanh M – sinh năm: 1959;

- Bà Phạm Thị Kim A – sinh năm 1966;

Đều trú tại: tổ dân phố V, thị trấn S, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Công văn số 771/CV-BCH ngày 31/8/2016 của Ban chỉ huy quân sự (BCHQS) huyện T, tỉnh Quảng Ngãi về việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2017, Hội đồng nghĩa vụ quân sự (HĐNVQS) thị trấn S, huyện T xây dựng kế hoạch, tiến hành tổ chức thực hiện các bước tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2017.

Đúng vào 07 giờ 30 phút ngày 03/11/2016, HĐNVQS thị trấn S tiến hành giao Lệnh gọi khám sức khỏe cho các thanh niên thuộc đối tượng phải đi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự năm 2017, trong đó có Phạm Công T. Kết quả khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự, Phạm Công T đạt tiêu chuẩn, đủ điều kiện để nhập ngũ.

Ngày 18/01/2017, HĐNVQS thị trấn S mời 15 thanh niên trúng tuyển nghĩa vụ quân sự, trong đó có Phạm Công T đến UBND thị trấn S để nhận Lệnh gọi công dân nhập ngũ nhưng Trịnh không đến. Ngày 25/01/2017, HĐNVQS thị trấn S phối hợp với Công an thị trấn S và BCHQS huyện T đến nơi cư trú của T để giao Lệnh cho T đồng thời kết hợp thăm hỏi, tặng quà, thuyết phục, động viên, giải thích pháp luật và công bố Lệnh gọi công dân nhập ngũ số 13/QS ngày 10/01/2017 của Chỉ huy trưởng BCHQS huyện T nhưng T kiên quyết không nhận Lệnh.

Ngày 10/02/2017, UBND thị trấn S, huyện T có giấy mời số 06/GM-UBND để đúng 13 giờ 30 phút ngày 12/02/2017, Phạm Công T có mặt tại UBND thị trấn S để nhận Lệnh gọi công dân nhập ngũ và nhận quân tư trang trước khi lên đường nhập ngũ, tuy nhiên đúng thời gian và địa điểm nêu trên Phạm Công T không đến nhận Lệnh và nhận quân tư trang.

Theo Kế hoạch số: 02/KH-HĐNVQS ngày 07/02/2017 của HĐNVQS thị trấn S về việc tổ chức Lễ tuyển quân và giao quân tại huyện năm 2017 thì đúng 05 giờ ngày 13/02/2017, các thanh niên ăn sáng thân mật cùng địa phương tại trụ sở UBND thị trấn S để đúng 06 giờ cùng ngày HĐNVQS thị trấn S đưa quân về sân vận động huyện T dự lễ và giao nhận quân, T vẫn không có mặt. HĐNVQS thị trấn S lập biên bản về việc T vắng mặt theo Lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng.

Ngày 15/02/2017, Chủ tịch UBND thị trấn S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16/QĐ-XPVPHC trong lĩnh vực Quốc phòng, cơ yếu đối với Phạm Công T về hành vi vi phạm quy định về nhập ngũ: “Không có mặt đúng thời gian và địa điểm tập trung ghi trong Lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng” theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính phủ với hình thức phạt tiền là 2.000.000 đồng, Phạm Công T nhận Quyết định nhưng không nộp phạt.

Thực hiện Kế hoạch số 18/KH-UBND ngày 29/8/2017 của HĐNVQS thị trấn S về việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2018. Ngày 22/11/2017, T tham gia khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự năm 2018, kết quả Phạm Công T đạt tiêu chuẩn, đủ điều kiện để nhập ngũ.

Theo giấy mời của UBND thị trấn S thì vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 06/02/2018, T có mặt tại UBND thị trấn S để nhận Lệnh gọi nhập ngũ số 11/QS ngày 03/02/2018 của Chỉ huy trưởng BCHQS huyện T, tuy nhiên T vắng mặt dù đã nhận được giấy mời. Ngày 07/02/2018, HĐNVQS thị trấn S đã đến nhà T để thăm hỏi, tặng quà, động viên, giải thích pháp luật và công bố Lệnh gọi công dân nhập ngũ nhưng T vẫn không nhận Lệnh.

Ngày 27/02/2018, UBND thị trấn S, huyện T có giấy mời để đúng 13 giờ 30 phút ngày 04/3/2018, Phạm Công T có mặt tại UBND thị trấn S để nhận Lệnh gọi công dân nhập ngũ và nhận quân tư trang trước khi lên đường nhập ngũ, tuy nhiên Phạm Công T tiếp tục vắng mặt.

Theo Kế hoạch số: 15/KH-UBND ngày 06/02/2018 của UBND huyện T về việc tổ chức Lễ giao, nhận quân năm 2018 thì đúng 05 giờ ngày 05/3/2018, các thanh niên ăn sáng thân mật cùng địa phương tại trụ sở UBND thị trấn S để đúng 06 giờ cùng ngày HĐNVQS thị trấn S đưa quân về sân vận động huyện T dự lễ giao nhận quân. Kết thúc buổi lễ, T vẫn không có mặt. HĐNVQS thị trấn S lập biên bản về việc T vắng mặt theo Lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2018/HS-ST ngày 03-7-2018, Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 332; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Công T phạm tội “Trốn tránh nghĩa vụ quân sự”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Công T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09/7/2018, bị cáo Phạm Công T có đơn kháng cáo với nội dung kêu oan. Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận nội dung kháng cáo kêu oan của bị cáo Phạm Công T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2018/HS-ST ngày 03-7-2018 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi của bị cáo Phạm Công T, thấy rằng: Trong năm 2017, thực hiện kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự thị trấn S về việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ thì bị cáo Phạm Công T là công dân có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để nhập ngũ theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự. Nên bị cáo Phạm Công T đã được Ban chỉ huy quân sự huyện T ra Lệnh gọi công dân nhập ngũ. Tuy nhiên, khi được mời đến UBND thị trấn S để nhận lệnh, và khi chính quyền địa phương phối hợp cùng Hội đồng nghĩa vụ quân sự đến nhà để thăm hỏi, động viên, giải thích pháp luật và công bố Lệnh gọi công dân nhập ngũ cho bị cáo, bị cáo đều kiên quyết không nhận Lệnh. Ngày 13/02/2017 bị cáo không chấp hành Lệnh gọi nhập ngũ và không tham gia Lễ giao nhận quân theo quy định. Ngày 15/02/2017, Chủ tịch UBND thị trấn S đã ra quyết định xử phạt 2.000.000 đồng đối với bị cáo về hành vi vi phạm quy định về nhập ngũ: “Không có mặt đúng thời gian và địa điểm tập trung ghi trong Lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng” theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính Phủ. Bị cáo không nộp phạt theo quyết định xử phạt. Năm 2018, bị cáo đủ tiêu chuẩn và điều kiện nhập ngũ nên tiếp tục được Ban chỉ huy quân sự huyện T ra Lệnh gọi công dân nhập ngũ. Tương tự như năm 2017, bị cáo vẫn kiên quyết không nhận Lệnh dù nhiều lần được mời đến UBND thị trấn S để nhận Lệnh và được chính quyền địa phương đến nhà công bố Lệnh gọi công dân nhập ngũ. Ngày 05/3/2018 bị cáo tiếp tục không có mặt đúng thời gian và địa điểm tập trung ghi trong Lệnh gọi nhập ngũ để làm lễ giao nhận quân mà không có lý do chính đáng.

Bị cáo Phạm Công T cho rằng bị cáo không trốn tránh nghĩa vụ quân sự, mà bị cáo chưa chấp hành Lệnh gọi công dân nhập ngũ là vì các lý do sau: Ngày 08/3/2014 bị cáo bị anh Nguyễn Văn H và anh Trương Hữu T đánh gây thương tích, bị cáo làm đơn gửi đến Công an thị trấn S nhưng không được giải quyết. Đến năm 2015, bị cáo có lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự, nhưng vì sự việc ngày 08/3/2014 chưa được giải quyết nên bị cáo không đến khám tuyển. Sáng ngày 28/12/2015 bị cáo bị chính quyền địa phương tổ chức đoàn công tác rượt đuổi, bắt bị cáo lên UBND thị trấn S khám sức khỏe là làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của bị cáo nên bị cáo không đồng ý nhận Lệnh gọi công dân nhập ngũ.

Xét nội dung kháng cáo kêu oan của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự việc giữa bị cáo với anh Nguyễn Văn H và anh Trương Hữu T và việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là hai việc hoàn toàn khác nhau, không có mối quan hệ nhân quả với nhau. Hành vi của anh H và anh T đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Gây mất trật tự ở khu dân cư”, đồng thời anh H cũng đã xin lỗi và được bị cáo cùng gia đình chấp nhận, sự việc này đã được giải quyết và kết thúc. Đối với việc ngày 28/12/2015 bị cáo cho rằng hành vi đuổi bắt bị cáo đi khám sức khỏe là xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của bị cáo, thì thấy: Tại biên bản làm việc ngày 21/6/2016, UBND thị trấn S giải quyết đơn khiếu nại của bà Phạm Thị Kim A là mẹ bị cáo với nội dung như sau: “Đến khoảng 09 giờ sáng ngày 28/12/2015, Hội đồng khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự huyện đã khám cơ bản hoàn thành, chỉ còn duy nhất công dân Phạm Công T chưa đến khám theo giấy báo đã ký nhận. Hội đồng nghĩa vụ quân sự thị trấn S phân công tổ công tác đến nhà Phạm Công T để tuyên truyền vận động nhưng T không có ở nhà. Theo thông tin của nhân dân xung quanh đó thì T đang chơi ở nhà ông H ở cùng khu dân cư. Khi tổ công tác đến nhà ông H thì T bỏ chạy băng xuống ruộng sau nhà ông H, tổ công tác đuổi theo và giữ được T, mời T về UBND thị trấn S để làm việc và Phạm Công T đồng ý tự nguyện khám nghĩa vụ quân sự”, theo nội dung biên bản làm việc này xác định: Vì bị cáo không đến khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự theo giấy báo và bỏ chạy khi nhìn thấy tổ công tác, nên tổ công tác đuổi theo để giữ bị cáo lại và mời về UBND thị trấn S làm việc, sau đó bị cáo tự nguyện khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự, chứ không phải tổ chức rượt đuổi bắt bị cáo đến khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự. Sau khi UBND thị trấn S giải quyết đơn khiếu nại thì bà Phạm Thị Kim A và bị cáo không có ý kiến, cũng không có khiếu nại gì. Đến năm 2017 và 2018 bị cáo không nhận Lệnh gọi nhập ngũ với lý do không được giải quyết thỏa đáng sự việc ngày 28/12/2015 là không có cơ sở chấp nhận.

Đồng thời, căn cứ theo quy định tại Điều 5 chương II Thông tư số 95/2014/TT-BQP ngày 07/7/2014 của Bộ Quốc phòng hướng dẫn, thì các lý do bị cáo nêu trên không phải là lý do chính đáng để không chấp hành Lệnh gọi nhập ngũ. Việc Chủ tịch UBND thị trấn S ra quyết định xử phạt vi phạm trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu đối với bị cáo về hành vi “Không có mặt đúng thời gian và địa điểm tập trung ghi trong Lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng” theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính Phủ là đúng pháp luật.

Từ những nhận định nêu trên. Có đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trốn tránh nghĩa vụ quân sự” theo khoản 1 Điều 332 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2018/HS-ST ngày 03-7-2018, Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Bị cáo Phạm Công T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Công T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2018/HS-ST ngày 03-7-2018 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: khoản 1 Điều 332; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Công T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trốn tránh nghĩa vụ quân sự”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Bị cáo Phạm Công T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ