vanban.org

Bản án 15/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 15/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 15/2019/HS-ST
Ngày: 15-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Trí;

Ông Đặng Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, là Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Nam, Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp,

Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án

hình sự thụ lý số 16/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019, đối với

bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1997, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư tr : p T, xã

M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học v n):

8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con

ông Lê Văn V và bà Lê Ngọc D; chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Từ nhỏ sống chung với cha mẹ, đi học đến lớp 8 nghỉ, phụ

gi p gia đình.

Bị cáo được tại ngoại; có mặt.

- Ng i c quy n l i, ngh a v liên quan n v án: Ông Lê Văn V, sinh

năm 1968. Địa chỉ cư tr : p T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Có mặt.

- Ng i làm chứng:

+ Bà Lê Ngọc D, sinh năm 1971;Có mặt;

+ Anh Lê Văn G, sinh năm 1994; Có mặt;

+ Chị Lê Thị Anh T, sinh ngày 08/9/2000; vắng mặt.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2018, Lê Văn T tr ng tuyển thi hành nghĩa vụ quân sự, được Ủy ban

nhân dân xã M, huyện C tống đạt hợp lệ Lệnh gọi công dân nhập ngũ, nhưng T không có mặt đ ng thời gian, địa điểm tập trung ghi trong Lệnh gọi mà không có lý do chính đáng, nên ngày 09/3/2018, Ủy ban nhân dân xã M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính T, với số tiền 2.000.000đồng. Ngày 19/3/2018, Lê Văn V (cha ruột của T) nộp phạt thay và thông báo cho T biết việc bị xử phạt vi phạm hành chính của lần này.

Tiếp tục, năm 2019, Lê Văn T tr ng tuyển thi hành nghĩa vụ quân sự, T

trực tiếp ký Lệnh gọi công dân nhập ngũ và biết rõ ngày 20/02/2019 sẽ tập trung tại Ban Chỉ huy quân sự huyện C để nhập ngũ. Sau khi nhận Lệnh gọi, T nói cho V và Lê Thị Ngọc D (cha, mẹ ruột của T) biết, gia đình động viên T thi hành nghĩa vụ quân sự thì T đồng ý.

Ngày 04/02/2019, T đến tỉnh Trà Vinh, ở lại nhà của người bạn, làm thuê.

Ngày 14/02/2019 Hội đồng nghĩa vụ quân sự xã M đến gặp ông V để vận động gia đình gọi T về thi hành nghĩa vụ quân sự, nhưng T vẫn tiếp tục ở lại tỉnh Trà Vinh mà không về thi hành nghĩa vụ quân sự theo đ ng thời gian, địa điểm đã được biết.

Ngày 26/02/2019, Ủy ban nhân dân xã M có văn bản số 175 và Quyết

định số 181 chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm hành chính có d u hiệu tội phạm về “Trốn tránh nghĩa vụ quân sự” đến cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Mới, đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Văn T.

Ngày 08/3/2019, T trở về địa phương. Tại cơ quan điều tra, T khai nhận

hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự như đã nêu.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 24 tháng 4 năm 2019, Viện kiểm

sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trốn tránh nghĩa vụ quân sự” theo khoản 1 Điều 332 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng

truy tố. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Văn V, các người

làm chứng bà Lê Ngọc D, anh Lê Văn G, chị Lê Thị Anh T cung c p lời khai như đã khai trong giai đoạn điều tra.

Bên cạnh đó, ông V còn xác định không yêu cầu bị cáo hoàn lại số tiền

2.000.000 đồng mà ông V đã bỏ ra nộp phạt thay cho bị cáo.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa

phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu,

chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định hành vi của bị cáo đã

đủ yếu tố c u thành tội “Trốn tránh nghĩa vụ quân sự” theo khoản 1 Điều 332 Bộ

luật Hình sự. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới

truy tố bị cáo là đ ng người, đ ng tội, đ ng pháp luật.

Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách, pháp luật về

nghĩa vụ quân sự mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Cho

nên, đề nghị xử phạt nghiêm bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và

phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành

khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm

trọng; đầu th . Cho nên, đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 332, các điểm i, s khoản

1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01

năm tù.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng

của Cơ quan điều tra huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện

Chợ Mới, Kiểm sát viên được thực hiện đ ng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được

pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo,

những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi,

quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,

các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát,

Kiểm sát viên thực hiện đ ng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận việc không ch p hành thi hành nghĩa vụ

quân sự năm 2018, bị Ủy ban nhân dân xã M xử phạt hành chính là phạt số tiền

2.000.000 đồng. Ông Lê Văn V, cha của bị cáo, đã nộp tiền phạt thay cho bị cáo.

Đến năm 2019, khi tr ng tuyển thi hành nghĩa vụ quân sự, bị cáo biết rõ ngày

20/02/2019 phải tập trung tại Ban Chỉ huy quân sự huyện Chợ Mới để nhập ngũ.

Tuy nhiên, ngày 04/02/2019, bị cáo đến nhà của người bạn ở tỉnh Trà Vinh chơi.

Sau đó, bị cáo đến thành phố Hồ Chí Minh, ở lại nơi thuê trọ của anh Lê Văn G

(anh ruột của bị cáo), làm thuê mà không về thi hành nghĩa vụ quân sự theo

đ ng thời gian, địa điểm đã được biết.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo

trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của ông Lê Văn V, bà Lê Ngọc D (cha mẹ của bị cáo) về việc bị cáo bị phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng do đã tr ng tuyển nghĩa vụ quân sự năm 2018 nhưng không ch p hành lệnh gọi nhập ngũ. Sau đó, bị cáo tr ng tuyển và nhận được lệnh gọi nhập ngũ năm 2019 nhưng bị cáo vẫn bỏ đi nơi khác, không ch p hành lệnh gọi nhập ngũ; phù hợp với lời khai của chị Lê Thị Anh T về việc bị cáo có đến nhà chị T chơi; phù hợp với lời khai của anh Lê Văn G về việc bị cáo có đến nơi anh G để ở; phù hợp với hồ sơ tuyển quân các năm 2018, 2019 của xã M do Ban Chỉ huy quân sự huyện Chợ Mới cung c p và các tài liệu chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án. Cho nên, có căn cứ xác định, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không ch p hành lệnh gọi nhập ngũ mà còn vi phạm.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ

hành vi không ch p hành lệnh gọi nhập ngũ là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện thông qua cách thức thực hiện hành vi và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa.

Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố c u thành tội “Trốn tránh nghĩa vụ

quân sự” được quy định tại khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tại phiên tòa là có căn cứ, đ ng người, đ ng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về tính ch t, mức độ của hành vi phạm tội, bảo vệ tổ quốc là nghĩa vụ

thiêng liêng và là quyền cao quý của công dân. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Cho nên, người nào không ch p hành đ ng quy định pháp luật về nghĩa vụ quân sự, trong đó có việc không ch p hành lệnh gọi nhập ngũ, đáp ứng các quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nh t là hình phạt.

Bị cáo đang trong độ tuổi tham gia nghĩa vụ quân sự. Đáng lẽ, sau khi bị

xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không ch p hành lệnh gọi nhập ngũ thì bị cáo phải biết sửa đổi nhưng bị cáo lại tiếp tục vi phạm khi nhận được lệnh gọi nhập ngũ lần tiếp theo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách, pháp luật về nghĩa vụ quân sự mà còn tạo hệ lụy x u cho những hành vi không ch p hành nghĩa vụ quân sự tương tự, ảnh hưởng đến công tác tuyển quân hàng năm và trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, trong quá

trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo; đầu th . Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, khi thực hiện hành vi phạm

tội, bị cáo có nhân thân tốt. Cho nên, cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình

phạt.

[5] Về số tiền nộp phạt vị phạm hành chính, sau khi bị cáo bị Chủ tịch Ủy

ban nhân dân xã M xử phạt vi phạm hành chính, ông V đã nộp phạt thay cho bị

cáo. Tại phiên tòa, ông V không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền

2.000.000đồng đã nộp phạt nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí

hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền

kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. C n cứ khoản 1 Đi u 332, các iểm i, s khoản 1, khoản 2 Đi u 51, Đi u

38 Bộ luật Hình sự n m 2015,

c sửa ổi, bổ sung n m 2017;

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trốn tránh ngh a v quân sự”;

Xử phạt: Lê Văn T: 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn ch p hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo ch p

hành hình phạt tù.

2. V án phí: C n cứ vào khoản 2 Đi u 136 Bộ luật Tố t ng hình sự n m

2015 và iểm a khoản 1 Đi u 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30

tháng 12 n m 2016 của Ủy ban th ng v Quốc hội quy ịnh v mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 (hai tr m nghìn) ồng án phí

hình sự sơ thẩm.

3. V quy n kháng cáo: C n cứ các Đi u 331, 333 Bộ luật Tố t ng hình

sự n m 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An

Giang xét xử ph c thẩm.

Tr ng h p bản án, quy t ịnh

c thi hành theo quy ịnh tại Đi u 2

Luật Thi hành án dân sự thì ng i

c thi hành án dân sự, ng i phải thi hành

án dân sự c quy n thỏa thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng ch thi hành án theo quy ịnh tại các Đi u 6,

7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án

c thực hiện theo quy

ịnh tại Đi u 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ