vanban.org

Bản án 36/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 11/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Seo Chư phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

Về hình phạt và điều luật áp dụng: Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 01/02/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "GIÀNG SEO C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Seo Chư phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊNBÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2021/HS-ST
Ngày: 11/08/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Thoảng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Tùng Lâm

2. Bà Ngô Thị Hoa

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 08 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2021/HSST ngày 13 tháng 07 năm 2021; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2021/QĐXXST- HS ngày 29/07/2021 đối với bị cáo:

Giàng Seo C, sinh ngày 01/05/1973 tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Bản B, xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lao Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/10; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng Lao S (đã chết) và bà Thào Thị M (đã chết). Bị cáo chung sống với Thào Thị D, sinh năm 1971 và Thào Thị P, sinh năm 1977 (không đăng ký kết hôn) và 05 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 2005. Hiện vợ con trú tại: Bản B, xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lao Cai.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Năm 1999 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lao Cai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt ngày 01/02/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo theo giới thiệu của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Yên Bái: Ông Nguyễn Kim Giang – Luật sư - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Yên Bái – có mặt.

- Bị hại:

Anh Lý Ý K, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn D, xã Lang Thíp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái - vắng mặt không lý do.

Ông Triệu Phúc A, sinh năm 1960. Nơi cư trú: Thôn D, xã Lang Thíp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái - vắng mặt không lý do.

Chị Bàn Thị S, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Thôn D, xã Lang Thíp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – vắng mặt không lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Vàng Seo H, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn D, xã Lang Thíp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Anh Vàng Seo K (Q). Nơi cư trú: Bản H, xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - vắng mặt không lý do.

Anh Vàng Seo L. Nơi cư trú: Thôn D, xã Lang Thíp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái - vắng mặt không lý do.

Người phiên dịch cho bị cáo Giàng Seo C: Ông Giàng A C – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã X, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi trưa ngày 28/01/2016, Giàng Seo C và Sùng Seo C đến lán của Vàng Seo H tại thôn D, xã Lang Thíp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Tại đây C hỏi vay tiền H nhưng H không có, C liền rủ H đi trộm cắp trâu để bán lấy tiền tiêu sài, nhưng H không nói gì, sau đó C và Ch đi về. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày Giàng Seo C, Sùng Seo Ch và Giàng Seo L trú tại thôn V, xã Lùng Cải, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai đến nhà Vàng Seo K (tên gọi khác là Q) ở bản H, xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai để hỏi thuê xe ô tô của K đi chở trâu và hẹn khi nào gọi thì đi chở trâu cho Giàng Seo C.

Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày Giàng Seo C, Sùng Seo Ch và Giàng Seo L đi xe máy đến thôn D, xã Lang Thíp. C để xe máy tại bờ ao nhà Vàng Seo L sau đó cả ba đi tìm trâu trộm cắp. C gọi điện cho Vàng Seo H, khoảng 20 phút sau H đến chỗ hẹn, C nói đã tìm được địa điểm trộm trâu và rủ H cùng tham gia. H đồng ý và cùng bọn C đến khu vực người Dao ở thôn D, xã Lang Thíp để trộm trâu. Khi đi qua nhà anh Bàn Tài S thì H sợ nên đứng lại còn C, Ch, L đi dắt trộm được 2 con trâu đưa đến chỗ H thì H nhận ra trâu của nhà anh Q bạn H nên H bảo C trả lại 2 con trâu đó thì C đồng ý dắt trả. Sau đó C đến nhà anh Lý Ý K trộm cắp được 2 con trâu (1 con trâu cái khoảng 10tuổi, 1 con trâu đực khoảng 2tuổi). L và Ch đến nhà ông Triệu Phúc A trộm cắp được 3 con trâu (1 con trâu cái khoảng 10tuổi; 2 con trâu đực 1 con khoảng 5tuổi, 1 con khoảng 2tuổi). Khi tập trung lại C bảo là còn ít nên bảo L trộm cắp thêm 1 con trâu cái khoảng 6tuổi của nhà chị Bàn Thị S. C phân công H ở lại canh gác nếu có người đuổi theo thì điện báo cho C biết và hứa nếu bán được trâu sẽ chia tiền cho H.

Khi C cùng Ch, L dắt trâu đến khu vực Cầu Đen thuộc Bản B, xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai thì C gọi điện cho Vàng Seo L hẹn sang Cầu Đen chở trâu cho C. Sau khi nói rõ địa điểm C còn bảo L ra bờ ao đi chiếc xe máy của C lên nhà K (anh trai L) bảo K đi xe máy sang cho C còn L lái ô tô đến chở trâu cho C theo thỏa thuận. Khoảng 01 giờ ngày 29/01/2016, L lái xe ô tô tải BKS 17C-018.75 đến chỗ cầu Đen thì gặp Giàng Seo C, Sùng Seo Ch và Giàng Seo L, sau khi lùa đuổi trâu lên xe thì Vàng Seo L lái xe cùng K và Ch chở 6 con trâu trộm cắp được lên khu vực chợ Cán Cấu, huyện Xi Ma Cai, tỉnh Lào Cai, còn C và Giàng Seo L đi xe máy theo sau. Đến khoảng 6 giờ 30 phút ngày 29/01/2016 L chở 6 con trâu cùng với K và Ch đến cách chợ Cán Cấu khoảng 01 km thì dừng lại. Ch, K và Giàng Seo L dắt 6 con trâu đến khu vực giáp biên giới Trung Quốc, tại đây Ch đứng ra trao đổi để bán 6 con trâu cho 2 người dân tộc Mông ở bên Trung Quốc với giá 30.000 nhân dân tệ (tiền Trung Quốc) hai người Mông đưa cho Chủ 10.000 tệ, Ch đưa luôn cho K cầm về trước còn Ch và Giàng Seo L ở lại giải quyết nốt chuyện mua bán trâu. Sau khi nhận đủ 20.000 NDT tiền Trung Quốc. Giàng Seo Ch và Vàng Seo L quay về gặp và đưa cho Giàng Seo C số tiền 3000 nhân dân tệ (tiền Trung Quốc). Số tiền còn lại Ch đã chia cho anh em Vàng Seo K 10.000 nhân dân tệ (tiền Trung Quốc) và Vàng Seo H, Giàng Seo L mỗi người 10.000.000đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 02/KLĐGTS ngày 08/3/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Văn Yên kết luận: Tổng trị giá 06 con trâu các bị cáo trộm cắp là 187.200.000đ (một trăm tám mươi bẩy triệu, hai trăm nghìn đồng). Trong đó 03 con trâu của nhà ông Triệu Phúc A là 91.800.000đ; 02 con trâu nhà anh Lý Ý K là 58.400.000đ và 01 con trâu của bà Bàn Thị S là 37.000.000đ.

Tại bản án số 27/2016/HSST ngày 16/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã xử phạt Vàng Seo H 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Xử phạt Vàng Seo L, Vàng Seo K mỗi bị cáo 02 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 04 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngày 14/9/2016 Sùng Seo Ch đã bị bắt. Tại bản án số 52/2016/HSST ngày 30/11/2016 Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, Yên Bái xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 18/5/2020 Giàng Seo L đã bị bắt. Tại bản án số: 37/2020/HS-ST ngày 15/09/2020 Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, Yên Bái xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Sau khi phạm tội bị cáo Giàng Seo C đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã và tạm đình chỉ. Ngày 01/02/2021 đã bắt được Giàng Seo C theo quyết định truy nã số: 02/QĐTN ngày 26/04/2016 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKS-VY ngày 12/07/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên đã truy tố Giàng Seo C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm e khoản 2 điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, p khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 20; 53 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về trách nhiệm dân sự: Tại bản án số: 27/2016/HSST ngày 16/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã giải quyết buộc Vàng Seo H phải bồi thường thiệt hại cho các bị hại. Các bị cáo khác phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả lại cho Vàng Seo H số tiền mà H đã bồi thường cho những người bị hại. Vàng Seo H vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo Giàng Seo C phải hoàn trả số tiền Vàng Seo H đã bồi thường cho những bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Việc đề nghị của Vàng Seo H là hoàn toàn tự nguyện không trái quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng vụ án và tài sản tạm giữ: Đã được giải quyết tại bản án số 27/2016/HSST ngày 16/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu án phí HSST.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ ràng. Sau khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn hối hận. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã hết sức thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã gửi lại tiền và tài sản cho bị cáo Vàng Seo H và bị cáo Vàng Seo K để bồi thường cho bị hại. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng cao kinh tế đặc biệt khó khăn. Do nhận thức pháp luật của bị cáo còn hạn chế. Từ những căn cứ nêu trên tôi đề nghị HĐXX. Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Bị cáo thuộc hộ nghèo nên miễn án phí HSST đối với bị cáo.

Bị cáo nhất trí lời bào chữa của Luật sư. Bị cáo không tranh luận gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Giàng Seo C phù hợp với lời khai của các bị cáo khác là Giàng Seo L; Vàng Seo H, Vàng Seo L, Vàng Seo K, Sùng Seo Ch và phù hợp với lời khai của người bị hại Triệu Phúc A, Lý Ý K, Bàn Thị S và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 23giờ đêm ngày 28/01/2016 tại thôn D, xã Lang Thíp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái bị cáo Giàng Seo C cùng với các bị cáo Vàng Seo H, Sùng Seo Ch, Giàng Seo L đã trộm cắp 03 con trâu của nhà ông Triệu Phú A có tổng giá trị 91.800.000 đồng. Trộm cắp 02 con trâu của nhà anh Lý Ý K có tổng giá trị 58.400.000 đồng. Trộm cắp của nhà chị Bàn Thị S 01 con trâu có trị giá 37.000.000đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp là 187.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo Giàng Seo C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. (Với tình tiết định khung tăng nặng là chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000đồng đến dưới 200.000.000đồng). Do đó cáo trạng số: 33/CT-VKS-VY ngày 12/07/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét vai trò đồng phạm, tích chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo cho thấy đây là vụ án đồng phạm, không có sự phân công công việc cụ thể cho từng người trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án thấy rằng: Bị cáo Giàng Seo C là người rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy bị cáo Giàng Seo C phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò chính trong vụ án và phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với các bị cáo khác.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo là người nhận thức được hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần phải đưa bị cáo ra xử lý bằng pháp luật để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo Giàng Seo C là người đã có 01 có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” năm 1999. Đến nay đã được xóa án tích. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Đây thể hiện sự coi thường pháp luật, ý thức rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém. Vì vậy cần xử phạt bị cáo một hình phạt thỏa đáng tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và đáp ứng được yêu cầu đấu tranh với tội phạm trong giai đoạn hiện nay.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 mà bị cáo được hưởng.

Bị cáo đã đưa cho Vàng Seo H và Vàng Seo K 01 con trâu, 01 chiếc xe mô tô và tiền 5.000.000đồng tương đương số tiền 30.000.000đồng để H và K đứng ra bồi thường cho các bị hại (số tiền này H và K đều xác nhận tại Cơ quan điều tra là có). Do vậy cần cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra. Xét nhân thân, vai trò của bị cáo trong vụ án các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định và có một hình phạt thật nghiêm khắc đủ để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện đồng thời để răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng ...”. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có tài sản, công ăn việc làm không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nghĩa vụ liên đới bồi thường: Tại bản án số: 27/2016/HSST ngày 16/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã giải quyết buộc Vàng Seo H phải bồi thường thiệt hại cho các bị hại. Các bị cáo khác phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả lại cho Vàng Seo H số tiền mà H đã bồi thường cho những người bị hại. Vàng Seo H vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo Giàng Seo C phải hoàn trả số tiền Vàng Seo H đã bồi thường cho những bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Việc đề nghị của Vàng Seo H là hoàn toàn tự nguyện không trái với những quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ đã được xử lý tại bản án số: 27/2016/HSST ngày 16/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Seo Chư phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

2. Về hình phạt và điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46; 20; 53 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 01/02/2021.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Bị cáo Giàng Seo C phải chịu 200.000đồng tiền án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. [

ơ

Cỡ chữ