vanban.org

Bản án 36/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 01/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

48 Bộ luật hình sự năm 1999.

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Võ Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 48 Bộ luật hình sự năm 1999.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2018/ HSST
Ngày:01/02/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Ngân

Ông Nguyễn Đức Đẹp

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Tuân là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nha Trang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nha Trang,

tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 421/2017/HSST ngày 22 tháng 12 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Võ Thanh T – Sinh năm: 1975; Nơi cư trú: Tổ 18, thôn Đ, xã V, thành phố

Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Cha: Võ T (chết); Mẹ: Nguyễn Thị T (T).

Tiền án:

Ngày 02/6/2015, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang ban hành bản án số

115/2015/HSST về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138, xử phạt 01 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/6/2016; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/9/2008, Tòa án nhân dân huyện C ban hành bản án số 34/2008/HSST về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS, xử phạt 09 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/4/2009. Bị cáo bị tạm giam ngày 01/11/2017; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Ngư i bị hại :

1. Ông Phan Văn T

Chỗ ở: STH 14 – 30 đường 8B, KĐT L 2, phường Ph, thành phố Nha Trang;

vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Hồng Thanh H

Chỗ ở: 16B1 T, phường T, thành phố Nha Trang; vắng mặt tại phiên tòa.

* Ngư i có quyền lợi nghĩa vụ, nghĩa vụ liên quan :

1. Ông Lê Quốc N

Chỗ ở: Thôn 7, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Trương Mạnh H

Chỗ ở: 84/5 H, phường L, thành phố Nha Trang; vắng mặt tại phiên tòa.

*Ngư i làm chứng:

1. Ông Nguyễn Phước T

Chỗ ở: Tổ 1 L , xã V, thành phố Nha Trang; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Vũ Nguyễn Quốc H

Chỗ ở: 113/5/45 L, phường N, thành phố Nha Trang; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18h30 phút ngày 02/4/2017, Võ Thanh T điều khiển xe máy

(BKS 47M1-056.02), đi dạo quanh khu vực thành phố Nha Trang mục đích xem nhà nào có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khi đến trước nhà 45 L, phường V, Nha Trang, phát hiện chồng ghế nhựa gồm 18 chiếc hiệu Vĩ Hưng của anh Phan Văn Th để gần cột điện đường, không có người trông coi, T liền dừng xe máy lấy trộm chồng ghế bỏ lên yên xe chở đi. Lúc này, anh Nguyễn Phước T và anh Nguyễn Vũ Quốc H đang đi trên đường đến đoạn ngã tư đường Y – Lnhìn thấy T điều khiển xe máy chở chồng ghế nhựa phía sau có biểu hiện nghi vấn nên bắt giữ T cùng toàn bộ tang vật giao nộp cho Công an phường V, tại cơ quan công an T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trước đó, khoảng 13h50 phút ngày 01/4/2017, T điều khiển xe máy (BKS 47M1-056.02) đến hẻm 16 T, phường T, thành phố Nha Trang lấy trộm 05 cây sắt của anh Hồng Thanh H, sau đó T đem đi bán cho một người phụ nữ mua phế liệu dạo (không rõ nhân thân lai lịch) trên đường T với giá 150.000đồng, số tiền trên T cũng đã xài hết.

Tại biên bản định giá tài sản số 103/TCKH ngày 05/4/2017 của Hội đồng định

giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 18 chiếc ghế nhựa dựa (03 sọc) hiệu Vĩ Hưng, có giá trị là: 702.000 đồng (Bảy trăm lẻ hai nghìn đồng).

Tại biên bản định giá tài sản số 335/TCKH ngày 09/10/2017 của Hội đồng

định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 05 cây sắt loại V3x5 lỗ, có giá trị là: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 20 tháng 12 năm 2017, Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Võ Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang vẫn giữ

nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Võ Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Thanh T; xử phạt bị cáo Võ Thanh T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 01/11/2017. Về trách nhiệm dân sự: người bị hại Ông Phan Văn T và ông Hồng Thanh H vắng mặt, nên tách ra thành vụ án dân sự khác khi người bị hại có đơn yêu cầu; Về vật chứng: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen, số sim 01266253359 là tài sản của bị cáo T nên trả lại cho bị cáo. Đối với 01 (một) xe máy,nhãn hiệu Citi, màu xanh, biển số: 47M1-056.02, số máy VHLFM152FMHV00211749, số khung RMNDCH9MN8H011749 chưa xác định được chủ sở hữu nên tiếp tục giao lại cho Công an thành phố Nha Trang tạm giữ điều tra làm rõ để giải quyết theo quy định của pháp luật; tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thanh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của

mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại ông Phan Văn T và ông Hồng Thanh H

vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Quốc Nam và ông Trương Mạnh H vắng mặt, người làm chứng: Ông Nguyễn Phước T và ông Vũ Nguyễn Quốc H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thanh T đã khai nhận: khoảng 18h30 phút ngày

02/4/2017, trước nhà 45 L, phường V, Nha Trang bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 18 chiếc ghế nhựa, hiệu Vĩ Hưng của anh Phan Văn T để gần cột điện đường, không có người trông coi. Giá trị tài sản trộm cắp là 702.000 đồng. Ngoài ra vào khoảng 13h50 phút ngày 01/4/2017, tại hẻm 16 T, phường T, thành phố Nha Trang bị cáo cũng có hành vi lén lút trộm cắp 05 cây sắt loại V3x5 lỗ của anh Hồng Thanh H, sau đó T đem đi bán cho một người phụ nữ mua phế liệu dạo (không rõ nhân thân lai lịch) trên đường T với giá 150.000đồng, số tiền trên T cũng đã xài hết. Giá trị tài sản trộm cắp là 200.000đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo T trộm cắp là 902.000đồng.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận tin báo; lời khai của

người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Võ Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến

quyền sở hữu của công dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo không lo tu dưỡng rèn luyện đạo đức, làm ăn chân chính lương thiện mà lại thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, thể hiện tính tham lam, tư lợi và coi thường pháp luật của bị cáo. Bản thân bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích và nhân thân xấu. Trong vụ án này, giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp ngày 01/4/2017 là 200.000 đồng và giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp ngày 02/4/2017 là 702.000 đồng. Bị cáo đã thực hiện hai lần trộm cắp nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Thanh

T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp đã trả cho người bị hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự:

+ Người bị hại ông Phan Văn H và Hồng Thanh H vắng mặt, nên Hội đồng

xét xử tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự, khi đương sự có yêu cầu.

Về xử lý vật chứng:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen, số sim 01266253359

là tài sản của bị cáo T nên trả lại cho bị cáo.

+ 01 (một) xe máy, nhãn hiệu Citi, màu xanh, biển số: 47M1-056.02, số máy

VHLFM152FMHV00211749, số khung RMNDCH9MN8H011749 chưa xác định được chủ sở hữu nên tiếp tục giao lại cho Công an thành phố Nha Trang tạm giữ điều tra làm rõ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Võ Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy

định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều

48 Bộ luật hình sự năm 1999.

Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Võ Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Võ Thanh T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm

giam 01/11/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, ông Phan Văn H và Hồng Thanh H

vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự, khi ông Phan Văn H và Hồng Thanh H có yêu cầu.

3. Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo Võ Thanh T 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 1280

màu đen, số sim 01266253359.

- Tiếp tục tạm giữ và giao cho Công an thành phố Nha Trang 01 (một) xe

máy, nhãn hiệu Citi, màu xanh, biển số: 47M1-056.02, số máy VHLFM152FMHV00211749, số khung RMNDCH9MN8H011749 hiện chưa xác định được chủ sở hữu để điều tra là rõ và giải quyết theo quy định của pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/01/2018 giữa Cơ quan cảnh sát

điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).

4. Về án phí:

Bị cáo Võ Thanh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự

sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản

án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ