- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Lê Hoàng N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Lê Hoàng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 357/2023/HS-ST Ngày: 31/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hương
2. Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 309/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 345/2023/QĐXXST– HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Lê Hoàng N, sinh năm: 1992 tại tỉnh Long An; thường trú: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh LA; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Toàn N và bà Lê Thị U; chưa có vợ con; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị bắt, tạm giam ngày: 14/4/2023 (có mặt).
- Bị hại:
1. Bà Cao Thị Thanh T, sinh năm: 1991.
2. Ông H Công Q, sinh năm: 1987.
Cùng địa chỉ: C chung cư C, khu phố A, phường L, thành phố TĐ, Thành phố H. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Do cần tiền tiêu xài, khoảng 02 giờ 00 phút ngày 13/4/2023, Trần Lê Hoàng N đi bộ dọc hành lang tầng 11 chung cư chung cư C, khu phố A, phường L, thành phố TĐ, Thành phố H, để tìm tài sản sơ hở trộm cắp thì phát hiện căn hộ C cửa mở hé. N đẩy cửa đi vào trong thì phát hiện 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax để dưới nền nhà, 01 điện thoại di động hiệu Iphone X để trên bàn của bà Cao Thị Thanh T và 01 cái ví bên trong có 2.300.000 đồng và 23 USD của ông H Công Q nên cầm lấy bỏ vào túi quần. Do có nghe tiếng động nên bà Hồ Thị Bích T1 là mẹ anh Q thức dậy và thấy có bóng người chạy từ trong phòng khách ra ban công, bà T1 gọi bà T và ông Q thức dậy. Ông Q và bà T kiểm tra tài sản thì thấy mất 02 điện thoại di động và 01 cái ví nêu trên, ông Q liền chạy xuống phòng bảo vệ để thông báo sự việc. Cùng lúc này, N thấy bị phát hiện nên chạy vào căn hộ C1. Sau đó, Công an đến vận động N mở cửa hợp tác làm việc, tuy nhiên N không mở cửa. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, Công an phá cửa căn hộ C1 và khống chế bắt giữ N cùng tang vật.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Lê Hoàng N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Kết luận định giá tài sản số 119-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 18/4/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng Hình sự thành phố Thủ Đức kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 14 Promax màu đen 256Gb có giá 21.433.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone X màu đen 256Gb có giá 4.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 25.433.000 đồng.
Theo Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết ngày 13/4/2023 01 USD có giá 23.260 đồng.
Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu đen 256Gb; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen 256Gb; số tiền 2.300.000 đồng; 23 USD. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là bà Cao Thị Thanh T và ông H Công Q.
- 01 quần tây dài màu xanh đen.
- 01 áo xanh dương đậm tay dài.
- 01 USB lưu giữ đoạn camera N đi vào căn hộ C, lưu trong hồ sơ vụ án.
Trách nhiệm dân sự: Bà Cao Thị Thanh T và ông H Công Q đã nhận lại tài sản và có đơn xin bãi nại đối với Trần Lê Hoàng N.
Tại Bản Cáo trạng số 290/CT-VKS-TPTĐ ngày 24/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Trần Lê Hoàng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Lê Hoàng N khai nhận hành vi như nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Lê Hoàng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng thì xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét lời khai nhận của bị cáo Trần Lê Hoàng N phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác biên bản xác định địa điểm, thu giữ vật chứng và các biên bản hoạt động điều tra khác… Từ đó có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 13/4/2023, tại căn hộ số C chung cư C, khu phố A, phường L, thành phố TĐ, Thành phố H, bị cáo Trần Lê Hoàng N đã lén lút lấy 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu đen, 01 điện thoại di động Iphone X màu đen, số tiền 2.300.000 đồng và 23 USD của vợ chồng ông H Công Q và bà Cao Thị Thanh T. Vừa lấy được tài sản thì bị cáo bị phát hiện và sau đó bị bắt giữ, đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Lê Hoàng N phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Theo kết luận định giá tài sản thì 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu đen trị giá 21.433.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen trị giá 4.000.000 đồng; 01 USD có giá 23.260 đồng; tổng số tài sản và tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 28.267.980 đồng. Do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo. Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng, phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Ông H Công Q và bà Cao Thị Thanh T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 01 quần tây dài màu xanh đen và 01 áo xanh dương đậm tay dài, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Lê Hoàng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Lê Hoàng N 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2023.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 quần tây dài màu xanh đen.
+ 01 áo xanh dương đậm tay dài.
(Theo Phiếu nhập kho số NK23/265C ngày 19/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. HCM; - VKSND TP. Thủ Đức; - Cơ quan CSĐT CA TP. Thủ Đức; - Nhà tạm giữ CA TP. Thủ Đức; - Cơ quan THAHS CA TP. Thủ Đức; - Chi cục THADS TP. Thủ Đức; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: HS, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |