- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? C n cứ vào khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 đối với bị cáo Lê V n D
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 356/2017/HS-ST Ngày 17 - 11 - 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Minh
Bà Nguyễn Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trâm Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 n m 2017 t i Tr s Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội t sơ th m c ng khai v án hình s sơ th m th lý số 383/2017/TLST-HS ngày 18 tháng 10 n m 2017 theo Quyết định đưa v án ra t
số 370/2017/QĐXXST-HS ngày 01/11/2017 đối với bị cáo:
1, Lê Văn D, sinh n m 197X t i tỉnh T; ĐKHKTT: Th n X, ã Q, thành phố S, tỉnh T; Nơi cư trú: Số X đường G, quận H, thành phố H; Nghề nghiệp: Kh ng; Trình độ v n hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Con ng: Lê V n T và bà Lê Thị D; Vợ là Nguyễn Thị D; Tiền án: Kh ng; Tiền s : Kh ng; Nhân thân: N m 2012 đến n m 2014, cai nghiện bắt buộc (đã hết thời hiệu).
Bắt kh n cấp ngày 23/06/2017. T m giữ ngày 23/06/2017. T m giam ngày 02/07/2017. Hiện đang t m giam t i tr i t m giam số 02 - C ng an thành phố Hà Nội; Có m t.
2, Nguyễn Văn Đ, sinh n m 199X t i tỉnh T; ĐKHKTT: Th n X, ã Q, thành phố T, tỉnh T; Nơi cư trú: Khu ven s ng ngõ X đường G, phường G, quận H, thành phố H; Nghề nghiệp: Kh ng; Trình độ v n hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Con ng: Nguyễn V n C và bà Lê Thị H; Vợ là T Thị H; Tiền án: 01; Tiền s : Kh ng;
Nhân thân: - Bản án số 66/2016/HSST ngày 12/04/2016, Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa ph t 05 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời h n tù tính từ ngày 25/11/2015 (chưa được óa án tích).
Đầu thú ngày 22/06/2017. T m giữ ngày 23/06/2017. T m giam ngày 02/07/2017. Hiện đang t m giam t i Tr i t m giam số 02 - C ng an thành phố Hà Nội; Có m t.
Bị hại: Anh Nguyễn Hồng Q, sinh n m 198X
Nơi cư trú: Số X, Tổ Y phường H, quận H, Thành phố H, (vắng m t)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Công L, sinh n m 198X
Nơi cư trú: Số X ngõ Y đường N, tổ Y, phường Y, quận C, thành phố H (vắng m t)
2. Anh Lê Hồng Q, sinh n m 196X
Nơi cư trú: Tổ B phường G, quận H, thành phố H (vắng m t)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn V n Đ đã từng làm thuê cho c a hàng vật liệu ây d ng nhà anh Nguyễn Hồng Q nên biết chỗ để e máy ba bánh t chế của anh Q t i phố X, phường H, quận H, thành phố H. Tối ngày 19/06/2017, bị cáo Đ có nói chuyện với Lê Duy N về việc anh Q còn nợ bị cáo 1.000.000 đồng tiền lương chưa trả, Lê Duy N đã rủ bị cáo Đ đi trộm cắp chiếc e ba bánh t chế của anh Q. Khoảng 00h ngày 21/06/2017, N gọi điện cho bị cáo Lê V n D rủ đến nhà trọ của bị cáo Đ để cùng nhau đi trộm cắp chiếc e máy ba bánh t chế. Bị cáo D đi đến nhà bị cáo Đ đã thấy bị cáo Đ, N đang chờ trước cổng nhà trọ.T i đây bị cáo Đ, bị cáo D, N, bàn nhau qua bãi vật liệu ây d ng Q của anh Q để trộm cắp chiếc e máy ba bánh t chế. Đến khoảng 01h30’cùng ngày Đ, N, D đi e máy về hướng T, phố Đ, bị cáo Đ điều khiển e máy Angel BKS: 29L9-2383 dẫn đường, bị cáo D điều khiển e máy Falim BKS: 17F5-3085 ch N đến c a hàng nhà anh Q phố X, phường H, quận H, thành phố H. Bị cáo Đ đã chỉ chỗ để e máy ba bánh t chế cho N, rồi bị cáo Đ đi sang bến e bus chờ và cảnh giới, còn N và bị cáo D ch y e máy từ từ quan sát c a hàng vật liệu ây d ng và thấy trong bãi vật liệu ây d ng có 01 e máy ba bánh t chế màu anh, bị cáo D lái e lượn qua lượn l i quan sát và dừng e c nh đống cột điện c nh bãi vật liệu ây d ng và lên đống cột điện ngồi cảnh giới, còn N ch y sang bên đường nói chuyện với bị cáo Đ, sau đó N đi vào chỗ để e ba bánh bên trong. Khoảng 2 phút sau N nổ được e máy quay đầu e đi ra ngoài và điều khiển xe ra hướng Hồ Đ, đường N, bị cáo Đ và bị cáo D đi theo phía sau N. Khi đi đến ngã 3 đường N thì bị cáo D bảo bị cáo Đ về nhà ngủ, bị cáo D và N đi về hướng đường N, đường G, đường P, đường L, đường T để tìm chỗ bán e. Sau đó bị cáo D và N bàn nhau giờ đêm muộn nên kh ng bán e được cho ai phải tìm chỗ g i e ngày mai tìm người mua xe. Bị cáo D và N tiếp t c đi đến phố D thì tìm được chỗ g i e. Sau đó đến khoảng 03h 00 sáng, bị cáo D đến nhà bị cáo Đ và ch Đ ra đường L cùng N đang chờ đó để n. Sau khi n ong, bị cáo D, Đ, N về phòng trọ của bị cáo D số X đường G, quận H, thành phố H ngủ. Đến 06h00’ ngày 22/06/2017 cả ba dậy đi đến đường D, quận C, thành phố H để tìm người bán e nhưng chưa bán được nên Đ đã đi về phòng trọ để đi làm. Khoảng 12h00’ ngày 22/06/2017, N và bị cáo D g p nhau bàn đi bán e. N là người liên hệ bán xe cho bà M là người kinh doanh vật liệu ây d ng đầu ngõ X đường X, phường Y quận C, thành phố H, N cho bà M số điện tho i của bị cáo D để bà M liên hệ. Bà M nói với con trai là Nguyễn C ng L liên hệ với D để mua e. Đến khoảng 14h00, anh L gọi điện cho bị cáo D hỏi mua chiếc e ba bánh, bị cáo D hẹn anh L đường H, quận C, thành phố H và tr c tiếp thống nhất bán xe với giá 12.000.000 đồng. Bị cáo D cầm 5.000.000 đồng, chia cho N 7.000.000 đồng. Đến 21h00’ bị cáo D và N đến g p bị cáo Đ t i số X đường T, N đưa cho bị cáo Đ 1.000.000 đồng nhưng Đ kh ng cầm vì sợ liên l y. Bị cáo D d n bị cáo Đ nếu c ng an hỏi thì kh ng nói gì và cầm lu n 1.000.000 đồng bị cáo Đ kh ng nhận, sau đó bị cáo D về nhà trọ ngủ còn N bỏ trốn. Ngày 22/06/2017, bị cáo Đ đến C ng an phường Hoàng V n Th đầu thú và khai nhận hành vi ph m tội. Cơ quan c ng an thu giữ của Đ 01 chiếc e máy nhãn hiệu Angle màu anh BKS: 29L9-2383, SM: 444636, SK: 444636. C n cứ lời khai của bị cáo Đ, cơ quan điều tra đã ra lệnh bắt kh n cấp đối với Lê V n D và Lê Duy N, nhưng chỉ bắt được bị cáo Lê V n D còn Lê Duy N đã bỏ trốn khỏi địa phương. Khi bắt giữ c ng an thu giữ của bị cáo D: Số tiền 6.000.000 đồng; 01 chiếc e máy nhãn hiệu Falim BKS: 17F5-3085, SK: 200002534, SM: 21011003; 01 điện tho i Nokia 1280 màu đen có imei: 356866021874031.
Bị h i anh Lê Hồng Q khai: Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 21/6/2017 anh có để 01 xe ba bánh t chế, t i c a hàng vật liệu ây d ng t i khu v c Đ, phường H, quận H, thành phố H, do xe bị hỏng ổ khóa kh ng rút được chìa khóa điện nên anh vẫn cắm chía khóa ổ điện xe. Đến 07h00’ ngày 22/6/2017 anh ra c a hàng phát hiện bị mất chiếc xe ba bánh và đến C ng an phường Hoàng V n Th , quận Hoàng Mai trình báo. Quá trình điều tra C ng an phường Hoàng V n Th , quận Hoàng Mai đã thu hồi được chiếc e, ngày 06/9/2017 Cơ quan điều tra đã ra quyết định lý vật chứng trao trả anh chiếc e ba bánh, anh đã nhận l i chiếc e và kh ng có yêu cầu về bồi thường dân s .
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan anh Nguyễn C ng L khai: Khoảng trưa ngày 22/6/2017 anh đang nhà thì mẹ anh là bà Nguyễn Thị M bảo anh liên l c vào số điện tho i của nam thanh niên (sau này t i cơ quan c ng an anh mới biết là Lê V n D) để mua chiếc e máy ba bánh t chế. Anh đã gọi điện và đến đường H g p bị cáo D thỏa thuận mua chiếc e ba bánh t chế với giá 12.000.000 đồng. Sau khi mua anh đã đem chiếc e máy về bãi vật liệu ây d ng số X đường X, quận C, khi mua xe anh kh ng biết chiếc e là do bị cáo D trộm cắp mà có. Khi cơ quan điều tra c ng an quận Hoàng Mai th ng báo cho anh chiếc e ba bánh t chế là tang vật v án trộm cắp anh đã t nguyện giao nộp cơ quan c ng an. Ngày 15/09/2017, cơ quan cảnh sát điều tra C ng an quận Hoàng Mai đã trao trả cho anh số tiền 6.000.000 đồng là tiền của bị cáo Lê V n D nộp khắc ph c hậu quả. Anh L kh ng yêu cầu các bị cáo bồi thường dân s số tiền 6.000.000 đồng.
Anh Nguyễn Hồng Q khai: Trước đây Lê Duy N có làm thuê cho c a hàng bán vật liệu ây d ng của anh. N làm cho anh khoảng một n m đến tháng 8/2016 anh cho Nnghỉ việc, hiện anh còn giữ của N 01 giấy ph p lái e cắt góc bên phải mang tên Lê Duy N và nộp cơ quan điều tra. Lê V n T đang làm thuê cho anh t i c a hàng bán vật liệu ây d ng và là b n của bị cáo Đ. Chiếc e máy nhãn hiệu Angel màu anh BKS 29L9-2383, SM 444636, SK 444636 mà Đ bị c ng an thu giữ là e anh mua của anh Đỗ Thiết D (ĐKHKTT: số X ngõ Y đường M, quận T, thành phố H), hiện anh D đã chết. Chiếc xe máy anh mua đưa cho T là người làm s d ng làm phương tiện đi l i. Anh kh ng biết việc bị cáo Đ mượn e s d ng vào việc ph m tội. Anh đề nghị được nhận l i chiếc e máy để s d ng.
T i cơ quan điều tra, bị cáo Lê V n D và bị cáo Nguyễn V nức khai nhận như đã nêu trên, lời khai của bị cáo và bị cáoức phù hợp với lời khai của người bị h i và người có quyền lợi nghĩa v liên quan.
T i bản kết luận số 228/HĐĐG ngày 22/08/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình s quận Hoàng Mai kết luận: 01 chiếc e m t ba bánh t chế, sơn màu anh, kh ng có số khung, số máy trị giá 10.000.000 đồng.
Đối với 01 chiếc e máy nhãn hiệu Angel màu anh BKS 29L9-2383, SM 444636, SK 444636 thu giữ của bị cáo Đ. Bị cáo Đ khai nhận mượn chiếc e Angle của Lê V n T.
Đối với 01 chiếc e máy nhãn hiệu Falim BKS 17F5-3085, SK 200002534, SM 21011003 thu giữ của bị cáo D. Bị cáo D khai chiếc e là của bị cáo D mua để làm phương tiện đi l i.
Ngày 18/09/2017, cơ quan cảnh sát điều tra C ng an quận Hoàng Mai đã ra Quyết định kh i tố bị can đối với Lê Duy N về tội Trộm cắp tài sản, hiện đối tượng N đang bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã và Quyết định tách v án hình s , tách hành vi trộm cắp tài sản của Lê Duy N để điều tra, lý sau.
T i bản cáo tr ng số 357/CT-VKS-HS ngày 17/10/2017 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội: Truy tố bị cáo Lê V n D, bị cáo Nguyễn V n Đ về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định t i khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình s .
T i phiên tòa: Bị cáo D, bị cáo Đ khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp 01 chiếc e ba bánh t chế trị giá 10.000.000 đồng của anh Nguyễn Hồng Q như đã khai t i cơ quan điều tra. Các bị cáo thừa nhận bản cáo tr ng Viện kiểm sát truy tố các bị cáo đúng với hành vi đã th c hiện.
Bị h i anh Nguyễn Hồng Q có đơn đề nghị t vắng m t. Về trách nhiệm bồi thường dân s : anh Q đã nhận l i tài sản, kh ng có yêu cầu gì về bồi thường dân s .
Người có quyền lợi nghĩa v liên quan:
- Anh Nguyễn C ng L có đơn đề nghị t vắng m t. Về trách nhiệm bồi thường dân s : anh đã nhận số tiền 6.000.000 đồng của bị cáo D trả l i khắc ph c hậu quả. Anh L kh ng yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền còn l i 6.000.000 đồng.
- Anh Lê Hồng Q có đơn đề nghị t vắng m t và đề nghị Tòa em t cho anh được nhận l i chiếc e Angle màu anh để s d ng.
Đ i diện Viện kiểm sát giữ quyền c ng tố t i phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi ph m tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê V n D, bị cáo Nguyễn V n Đ về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng t :
C n cứ vào khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình s ; ph t bị cáo Lê V n D từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù;
C n cứ vào khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33 Bộ luật hình s ; ph t bị cáo Nguyễn V n Đ từ 14 tháng tù đến 16 tháng tù;
Về hình ph t bổ sung: Miễn ph t tiền đối với các bị cáo
Về trách nhiệm dân s : Bị h i anh Nguyễn Hồng Q, người có quyền lợi nghĩa v liên quan anh Nguyễn C ng L kh ng yêu cầu về bồi thường dân s nên kh ng t.
Về lý vật chứng: C n cứ Điều 41 Bộ luật hình s ; Điều 76 Bộ luật tố t ng hình s
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc e Falim BKS 17F5-3085, SK:
200002534, SM: 21011003; 01 điện tho i Nokia 1280 màu đen có imei: 356866021874031.
- Trả l i anh Lê Hồng Q 01 chiếc e máy nhãn hiệu Angel màu anh
BKS 29L9-2383, SM: 444636, SK: 444636.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo D nhận thấy hành vi của mình là vi ph m pháp luật, đề nghị HĐXX em t giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.
Bị cáo Đ nhận thức được hành vi ph m tội của mình là sai trái, mong HĐXX em t giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo, t o điều kiện cho bị cáo sớm tr về đoàn t cùng gia đình và ã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được th c hiện đúng về th m quyền, trình t , thủ t c được quy định trong Bộ luật tố t ng hình s n m 2003; Quá trình điều tra và t i phiên tòa các bị cáo kh ng có ý kiến khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng; Do đó các hành vi, quyết định tố t ng của các cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã th c hiện đều hợp pháp.
Bị h i anh Nguyễn Hồng Q, người có quyền lợi nghĩa v liên quan anh Nguyễn C ng L, anh Lê Hồng Q có đơn in t vắng m t t i phiên tòa nên HĐXX c n cứ Điều 191 Bộ luật tố t ng hình s n m 2003 tiến hành t theo thủ t c chung.
Về hành vi ph m tội của các bị cáo: T i phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp 01 chiếc e ba bánh t chế của anh Nguyễn Hồng Q. Lời khai nhận tội của các bị cáo t i phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo t i cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người bị h i, người có quyền lợi nghĩa v liên quan cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ v án có đủ cơ s kết luận: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 21/06/2017, t i c a hang vật liệu ây d ng của anh Nguyễn Hồng Q khu v c Đ, phường H, quận H, thành phố H. Bị cáo Lê V n D, bị cáo Nguyễn V n Đ và Lê Duy N đã trộm cắp 01 chiếc e máy ba bánh t chế trị giá 10.000.000 đồng. Các bị cáo có đủ n ng l c trách nhiệm hình s , ph m tội với lỗi cố ý. Hành vi ph m tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm, tr c tiếp âm ph m quyền s hữu tài sản của c ng dân, gây mất trật t trị an ã hội và có thể gây thiệt h i kh ng những về tài sản mà còn ảnh hư ng tới sức khỏe, tính m ng của c ng dân. Hành vi ph m tội của bị cáo Lê V n D, bị cáo Nguyễn V n Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định t i Điều 138 Bộ luật hình s .
Đối với anh Nguyễn C ng L, quá trình điều tra khi mua e của bị cáo D, anh L kh ng biết chiếc e ba bánh là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra kh ng có c n cứ lý.
Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê V n D, bị cáo Nguyễn V n Đ về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định t i khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình s là có c n cứ, và đúng quy định của pháp luật.
X t vai trò của các bị cáo: Trong v án này bị can Lê Duy N là người kh i ướng, tr c tiếp th c hiện hành vi trộm cắp chiếc e ba bánh. Hiện N đang bỏ trốn, cơ quan cảnh sát điều tra c ng an quận Hoàng Mai đã ra quyết định truy nã và Quyết định tách v án hình s , tách hành vi trộm cắp tài sản của Lê Duy N để điều tra, lý sau. Bị cáo Nguyễn V n Đ là người tr c tiếp chỉ, dẫn và tham gia đứng cảnh giới cho N th c hiện hành vi trộm cắp chiếc e ba bánh. Bị cáo Lê V n D là người cùng bị cáo Đ đứng cảnh giới và tr c tiếp tiêu th tài sản trộm cắp lấy tiền n tiêu. Do vậy, vai trò của bị cáo Lê V n D, bị cáo Nguyễn V n Đ là ngang nhau.
Về tình tiết t ng n ng trách nhiệm hình s :
Đối với bị cáo Lê V n D: Bị cáo kh ng có tình tiết t ng n ng trách nhiệm hình s .
Đối với bị cáo Nguyễn V n Đ: Bị cáo có 01 tiền án chưa được óa án tích nên lần ph m tội này thuộc trường hợp tái ph m được quy định t i điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình s .
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s :
Đối với bị cáo Lê V n D: T i phiên tòa và t i cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành kh n, n n n hối cải. Quá trình điều tra bị cáo đã t nguyện bồi thường thiệt h i, khắc ph c hậu quả, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định t i điểm b, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình s .
Đối với bị cáo Nguyễn V n Đ: T i phiên tòa và t i cơ quan điều tra các bị cáo khai báo thành kh n n n n hối cải. Sau khi ph m tội biết kh ng thể trốn tránh được nên đã đến cơ quan c ng an t thú về hành vi ph m tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định t i điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình s .
Sau khi em t tính chất mức độ hành vi ph m tội, tình tiết t ng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình s . Thấy rằng các bị cáo nhân thân kh ng tốt, cố ý ph m tội nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống ã hội một thời gian nhất định mới có tác d ng cải t o, giáo d c đối với các bị cáo.
Về hình ph t bổ sung: X t các bị cáo kh ng có nghề nghiệp nên kh ng áp d ng hình ph t bổ sung là ph t tiền theo khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình s .
Về trách nhiệm dân s : Bị h i anh Nguyễn Hồng Q, người có quyền lợi nghĩa v liên quan anh Nguyễn C ng L kh ng yêu cầu các bị cáo phải bồi thường dân s nên Tòa kh ng t.
Về lý vật chứng: C n cứ vào Điều 41 Bộ luật hình s , Điều 76 Bộ luật tố t ng hình s
- Đối với chiếc e máy nhãn hiệu Angel màu anh BKS 29L9-2383, SM 444636, SK 444636 thu giữ của bị cáo Đ. Bị cáo Đ khai mượn chiếc e Angle của T. Quá trình điều tra, ác minh, chiếc e Angle chủ đứng tên anh Đỗ Thiết D, hiện anh D đã chết. Anh Lê Hồng Q là người mua l i và là chủ c a hàng vật liệu đưa cho T s d ng. Anh Q kh ng biết việc bị cáo Đ mượn e để s d ng vào việc ph m tội. Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định số khung, số máy của chiếc e là số khung số máy nguyên thủy. Tra cứu e kh ng có trong cơ s dữ liệu xe máy vật chứng, tiến hành đ ng tin tìm chủ s hữu nhưng chưa có ai đến liên hệ. HĐXX t thấy cần trả l i chiếc e trên cho anh Lê Hồng Q là người đang quản lý s d ng.
- Đối với 01 chiếc e máy nhãn hiệu Falim BKS 17F5-3085, SK 200002534, SM 21011003 thu giữ của bị cáo D. Bị cáo D khai chiếc e là của bị cáo D mua để làm phương tiện đi l i. Quá trình điều tra chủ đứng tên Nguyễn Thanh S, anh S khai đã bán chiếc e trên n m 2005. Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định số khung, số máy là số khung số máy nguyên thủy. Tra cứu e kh ng có trong cơ s dữ liệu e máy vật chứng, tiến hành đ ng tin tìm chủ s hữu nhưng chưa có ai đến liên hệ. Ngày 21/06/2017, bị cáo D đã s d ng chiếc e làm phương tiện ph m tội. HĐXX t thấy chiếc e trên có liên quan đến hành vi ph m tội của bị cáo nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 chiếc điện tho i di động nhãn hiệu Nokia 1208 màu đen số imei: 356866021874031 thu giữ của bị cáo D. Quá trình điều tra t thấy chiếc điện tho i Nokia 1208 có liên quan đến hành vi ph m tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: C n cứ vào Điều 99 Bộ luật tố t ng hình s ; Điều 22, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 M c I Danh m c mức án phí lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình s sơ th m.
Các bị cáo, bị h i, người có quyền lợi nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định t i Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố t ng hình s .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
C n cứ vào khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 đối với bị cáo Lê V n D
C n cứ vào khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33 Bộ luật hình s đối với bị cáo Nguyễn V n Đ
C n cứ Điều 41 Bộ luật hình s n m 1999; Điều 76, Điều 99, Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố t ng hình s
C n cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 M c I Danh m c mức án phí lệ phí Tòa án.
X phạt: Bị cáo Lê Văn D 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/06/2017.
X phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/06/2017.
Về hình ph t bổ sung: Miễn ph t tiền đối với các bị cáo
Về trách nhiệm dân s : Bị h i, người có quyền lợi nghĩa v liên quan kh ng yêu cầu các bị cáo phải bồi thường dân s nên Tòa kh ng t.
Về lý vật chứng:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 e máy nhãn hiệu Falim BKS 17F5
3085, số máy 200002534, số khung 21011003; 01 điện tho i di động Nokia 1208 màu đen số imei: 356866021874031.
- Trả l i anh Lê Hồng Q 01 e máy nhãn hiệu Angel màu anh đã
cũ, BKS 29L9-2383, số máy 444636, số khung 444636.
Hiện vật chứng đang lưu giữ t i kho vật chứng Chi c c thi hành án dân s quận Hoàng Mai theo lệnh nhập kho số 32/2018 ngày 01/11/2017
Về án phí: Bị cáo D, bị cáo Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai tr m nghìn) đồng tiền án phí hình s sơ th m.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị h i, người có quyền lợi nghĩa v liên quan vắng m t có quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày được tống đ t bản án.
| Nơi nhận: - nhân dân quận Ho ng Mai - C ng an quận Ho ng Mai - Chi cục TH D quận Ho ng Mai - Các bị cáo - Bị hại - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Lưu h ơ vụ án | T.M HỘI Đ NG X T X S TH M TH M PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Trung |