vanban.org

Bản án 355/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trương Thị Huyền Tr: 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là: 12 (mười hai) năm tù.

Xử phạt bị cáo Thiều Văn T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình Phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ Luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 theo bản án số 77/2025/HS - ST ngày 04/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 –… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trang + ĐP tổ chức, tàng trữ ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trương Thị Huyền Tr: 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là: 12 (mười hai) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 355/2025/HS-ST
Ngày 31 – 12 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phan Anh Dũng

2/ Bà Phạm Thị Giàu

- Thư ký phiên tòa: Bà H Thị Thu Thùy- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.

- Đại diện VKS nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn H - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 343/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 348/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 674/2025/HSST-QĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. TRƯƠNG THỊ HUYỀN TR (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 27/02/1989, tại Tiền Giang (nay là Đồng Tháp); CCCD: 0*********** cấp ngày 07/9/2022; Hộ khẩu thường trú: Tổ B, khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: Tổ B, khu phố N, phường Q, thành phố H, tỉnh Đồng Nai); Nơi ở hiện nay: không nơi ở ổn định; Giới Th: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Con ông: Trương Văn Ph, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1970; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có chồng tên Huỳnh Thành C, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Có 04 con sinh năm 2010, 2018, 2020 và 2025; Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

2. THIỀU VĂN T (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 10/6/1989, tại Đồng Nai; CCCD: 0*********** cấp ngày 09/9/2022; Nơi cư trú: Khu phố L, phường T, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: Ấp B, xã D, huyện V, tỉnh Đồng Nai); Giới Th: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Con ông: Thiều Văn Nh, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ tên Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1987; Có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 30/5/2007, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà (nay là Toà án nhân dân khu vực 1-Đồng Nai) xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bản án số 331/2007/HSST). Ngày 29/4/2008, T chấp hành xong bản án.

- Ngày 23/10/2008, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà (nay là Toà án nhân dân khu vực 1-Đồng Nai) xử phạt 03 năm 10 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bản án số 599/2008/HSST). Ngày 17/5/2019, T chấp hành xong bản án.

- Ngày 06/01/2009, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà (nay là Toà án nhân dân khu vực 1-Đồng Nai) xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bản án số 05/2009/HSST). Tổng hợp hình phạt với Bản án số 599/2008/HSST ngày 23/10/2008, buộc T phải chịu hình phạt chung là 11 năm 04 tháng tù. Ngày 17/5/2019, T chấp hành xong bản án.

- Từ ngày 15/11/2024 đến 16/11/2024, T thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Ngày 04/9/2025, T bị Toà án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/11/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Vĩnh Cửu - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đồng Nai.

- Người chứng kiến:

+ Anh Phan Nhựt M, sinh năm 1990

+ Anh Nguyễn H S, sinh năm 1995

+ Ông Đặng Minh Tr1, sinh năm 1964

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của Thiều Văn T và Trương Thị Huyền Tr:

Thiều Văn T và Trương Thị Huyền Tr đều là người sử dụng trái phép chất ma túy và sống chung với nhau như vợ chồng. Thu nhập của cả hai giao cho Tr quản lý sử dụng chung. T và Tr cùng bàn bạc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý như sau:

Ngày 18/11/2024, Tr sử dụng tài khoản Facebook của T tên “Thiều Văn T” nhắn tin với đối tượng H (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 01 (một) gói ma tuý tổng hợp (hàng đá) với giá 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) để sử dụng, H đồng ý. Sau đó, Tr đưa cho T 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), T cầm tiền đi đến khu vực Văn Miếu Trấn Biên mua của người thanh niên (chưa rõ lai lịch) 01 (một) gói ma tuý tổng hợp (để trong hộp giấy) với giá 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). T mang hộp giấy về phòng trọ và cùng Tr mở ra, bên trong có 01 (một) gói ma tuý tổng hợp (hàng đá) và được H (Chưa rõ lai lịch) tặng thêm 02 nỏ thuỷ tinh. T và Tr rủ nhau thuê nhà nghỉ “Minh P" thuộc ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố B, phường T, tỉnh Đồng Nai) để ở và sử dụng ma tuý. Tại đây, từ ngày 19/11/2024 đến ngày 30/11/2025, T và Tr đã 12 (mười hai lần) lần tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 19/11/2024, T và Tr đem gói ma tuý trên và 02 (hai) nỏ thuỷ tinh đến thuê phòng số X nhà nghỉ “Minh P" địa chỉ nêu trên. Tại đây, T lấy 02 (hai) nỏ thuỷ tinh, ống hút và chai nhựa có trong nhà nghỉ chế thành 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý. Sau đó, T lấy một phần gói ma tuý bỏ vào nỏ thuỷ tinh, dùng bật lửa gas đốt cho ma tuý hoá hơi rồi T và Tr cùng nhau sử dụng.

Lần thứ hai đến lần thứ mười: Khoảng từ 08 giờ đến 10 giờ từ ngày 20/11/2024 đến ngày 28/11/2024, tại phòng số X nhà nghỉ “Minh P" địa chỉ nêu trên, Thiều Văn T và Trương Thị Huyền Tr đã 09 lần tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý (mỗi ngày 01 (một) lần, T lấy 01 (một) phần ma tuý bỏ vào nỏ thuỷ tinh đốt lên T và Tr cùng sử dụng). Sau khi sử dụng ma tuý xong thì T và Tr đi làm.

Lần thứ mười một: Tối ngày 29/11/2024, tại phòng số X nhà nghỉ “Minh P" địa chỉ nêu trên, Thiều Văn T và Trương Thị Huyền Tr đổ hết số ma tuý còn lại vào nỏ thuỷ tinh và đốt lên cả hai cùng nhau sử dụng. Sau khi sử dụng xong, còn lại ít ma tuý trong nỏ thuỷ tinh T và Tr đi ngủ.

Lần thứ mười hai: Khoảng 08 giờ ngày 30/11/2024, tại phòng số X nhà nghỉ “Minh P" địa chỉ nêu trên, T và Tr lấy số ma tuý còn lại trong nỏ thuỷ tinh nêu trên rồi cùng nhau sử dụng hết số ma tuý.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, tại phòng X địa chỉ trên Công an xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (nay là Công an phường Tân Triều, tỉnh Đồng Nai) kiểm tra phát hiện T và Tr sử dụng trái phép chất ma tuý đã lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai) xử lý.

Quá trình điều tra, Thiều Văn T và Trương Thị Huyền Tr khai nhận hành vi phạm tội như trên.

*Về vật chứng: Thu giữ của Thiều Văn T và Trương Thị Huyền Tr:

+ 01 (một) phong bì niêm phong số 2479/KL-KTHS ngày 06/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai gồm 02 nỏ thuỷ tinh (không hoàn lại do phục vụ giám định).

+ 01 chai màu trắng gắn đoạn ống nhựa.

+ 01 (một) kéo kim loại, 01 (một) bật lửa gas màu vàng của Thiều Văn T sử dụng vào việc phạm tội.

+ 01 (một) cân tiểu ly điện tử và 01 (một) điện thoại hiệu OPPO Renno 5, số imei 1: 865545055515991, số imei 2: 865545055515983, số điện thoại: 0964.984.447 của Trương Thị Huyền Tr sử dụng vào việc phạm tội.

+ 01 (một) điện thoại hiệu OPPO F9, số điện thoại: 0977.356.753 (không mở được nguồn nên không kiểm tra được bên trong) của Trương Thị Huyền Tr không liên quan đến việc phạm tội.

2. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của Trương Thị Huyền Tr:

Trương Thị Huyền Tr, Phan Nhựt M1 và Nguyễn H S quen biết nhau và đều là những người sử dụng trái phép chất ma tuý.

Từ ngày 19/11/2024 đến 30/11/2024, Tr thực hiện hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” như nêu trên và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu khởi tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Do Tr đang mang thai nên Tr bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Vào khoảng tháng 12/2024 (không rõ ngày), Tr sử dụng điện thoại đăng nhập vào tài khoản Facebook “T Thiều” liên lạc với người tên H (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma tuý tổng hợp (hàng đá) với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Sau khi mua được ma tuý, Tr đem về phòng trọ tại ấp Y, xã E, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố Y, phường T, tỉnh Đồng Nai) chia ra thành nhiều gói ma tuý lớn nhỏ khác nhau cất giấu trong người và trong phòng trọ để sử dụng dần. Tr lấy nỏ thuỷ tinh, bình nhựa và ống hút chế tạo thành bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý và cất giấu trong phòng trọ.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18/12/2024, Đặng Hùng M- sinh năm 1995, cư trú tại T, khu phố R, phường N, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) cùng với Phan Nhựt M1 sinh năm 1990, cư trú tại khu phố C, phường S, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) chở một bộ bàn ghế gỗ đến phòng trọ của Tr địa chỉ trên. Một lúc sau thì S cũng đến phòng trọ của Tr chơi. Lúc này, Tr lấy 01 (một) gói ma tuý và bộ dụng cụ sử dụng ma tuý rủ Nhựt M1, S và Hùng M cùng sử dụng, tất cả đồng ý. Nhựt M1 lấy gói ma tuý do Tr đưa đổ hết vào nỏ thuỷ tinh, lấy bật lửa hơ nóng nỏ thuỷ tinh rồi để ra nền phòng trọ. Lúc này, S cầm bộ dụng cụ sử dụng ma tuý lên rồi dùng bật lửa (hộp quẹt gas) đốt nóng nỏ thuỷ tinh, cho ma tuý hoá hơi và đưa cho Tr, Sang, Hùng M và Nhựt M1 thay nhau sử dụng ma tuý bằng cách hút vào miệng. Cả nhóm thay phiên nhau sử dụng đến khi hết số ma tuý trong nỏ.

Đến 22 giờ 50 phút cùng ngày, khi Tr, Nhựt M1, S và Hùng M đang ở trong phòng trọ của Tr ở địa chỉ nêu trên thì bị Công xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (nay là Công an phường Tân Triều, tỉnh Đồng Nai) kiểm tra. Do sợ phát hiện nên Tr đem bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và 01 gói ma tuý (Tr cất giấu trong người để lần khác sử dụng) cất giấu vào trong ống thoát nước nhà vệ sinh trong phòng trọ thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại Cơ quan điều tra, Trương Thị Huyền Tr, Phan Nhựt M1, Nguyễn H S khai nhận hành vi phạm tội như trên.

* Về vật chứng:

Thu giữ của Trương Thị Huyền Tr:

+ 01 (một) bình nhựa có nắp màu xanh và 02 (hai) ống hút (màu cam và màu xanh) (kí hiệu mẫu M1) thu giữ dưới ống thoát nước trong nhà vệ sinh của phòng trọ và 01 (một) gói nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng (kí hiệu mẫu M2) thu giữ dưới ống thoát nước trong nhà vệ sinh và 01 (một) gói nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng (kí hiệu mẫu M3) thu giữ trong góc tường phòng trọ đã được niêm phong có chữ ký của Trương Thị Huyền Tr, Phan Nhựt M1, Nguyễn H S và dấu mộc của Công an huyện Vĩnh Cửu. Các vật chứng này đã được chuyển cơ quan thi hành án và xử lý trong vụ án của Phan Nhựt M1 và Nguyễn H S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

* Tại Bản kết luận giám định số 2479/KL-KTHS ngày 06/12/2024 của Giám định viên Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận (mẫu vật thu giữ ngày 30/11/2024):

- Mẫu chất màu vàng bám dính trong 01 nỏ thuỷ tinh (mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết không xác định được khối lượng.

- Mẫu chất màu trắng bám dính trong 01 nỏ thuỷ tinh (mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết không xác định được khối lượng.

* Tại kết luận giám định số 2661/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận (mẫu vật thu giữ ngày 18/12/2024):

- Mẫu bình nhựa, ống hút (mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết không xác định được khối lượng.

- Mẫu tinh thể màu trắng (mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 3,1692gam, loại Methamphetamine. Mẫu tinh thể màu trắng (mẫu M3) được niêm phong gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,1330gam, loại Methamphetamine.

* Tại Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 4817/KLGĐ ngày 02/7/2025 của Tr1 tâm pháp y tâm thần khu vực thành phố Hồ Chí Minh, kết luận đối với Trương Thị Huyền Tr như sau:

- Về y học: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 18/12/2024 cho đến hiện tại đối tượng Trương Thị Huyền Tr bị bệnh tâm thần.

Loại bệnh: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất kích thích, sử dụng gây hại.

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 18/12/2024 cho đến hiện tại đối tượng Trương Thị Huyền Tr đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Quá trình điều tra, anh Đặng Minh Tr1 khai: anh Tr1 thuê lại nhà nghỉ “Minh P" để kinh doanh. Anh Tr1 không biết Thiều Văn T và Trương Thị Huyền Tr sử dụng ma tuý trong nhà nghỉ. Đến khi Công an xã Thạnh Phú (nay là Công an phường Tân Triều, tỉnh Đồng Nai) đến kiểm tra nhà nghỉ, anh Tr1 mới biết việc T và Tr sử dụng ma tuý.

Tại Cáo trạng số 68/CT-VKSKV1 ngày 24 tháng 11 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã truy tố:

- Bị cáo Trương Thị Huyền Tr về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Bị cáo Thiều Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thiều Văn T và Trương Thị Huyền Tr thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo T có công với cách mạng (ông nội của T được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất), bị cáo Tr đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Căn cứ điểm a,b khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 , khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trương Thị Huyền Tr từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03( ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt theo Điều 55 Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Thiều Văn T từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù tháng tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” .

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong số 2479/KL-KTHS ngày 06/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

+ 01 vỏ chai nhựa màu trắng gắn đoạn ống nhựa, 01 (một) kéo kim loại, 01 (một) bật lửa gas màu vàng, 01 (một) cân tiểu ly điện tử là dụng cụ Thiều Văn T và Trương Thị Huyền Tr sử dụng phạm tội.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một) cân tiểu ly điện tử và 01 (một) điện thoại hiệu OPPO Renno 5, số imei 1: 865545055515991, số imei 2: 865545055515983, số điện thoại: 0964.984.447 của Trương Thị Huyền Tr sử dụng vào việc phạm tội.

Trả lại cho bị cáo Trương Thị Huyền Tr 01 (một) điện thoại hiệu OPPO F9, số điện thoại: 0977.356.753 (không mở được nguồn nên không kiểm tra được bên trong) do không liên quan đến vụ án.

* Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng H (chưa rõ lai lịch) và người thanh niên giao hàng (shipper) có hành vi bán và giao ma túy cho Thiều Văn T, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Đối với Phan Nhựt M1 và Nguyễn H S đã có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, đã bị khởi tố tách vụ án và xét xử ngày 24/9/2025.

Đối với Đặng Hùng M có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai ra quyết định xử phạt hành chính.

Bị cáo Trương Thị Huyền Tr và Thiều Văn T không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng:

+ Bị cáo Thiều Văn T: Trong thời gian bị tạm giam, tạm giữ bị cáo rất ăn năn và hối cải. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo được sớm về với gia đình và xã hội.

+ Bị cáo Trương Thị Huyền Tr: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Người chứng kiến ông Đặng Minh Tr1 vắng mặt tại phiên tòa (không có lý do), anh Phan Nhựt M1, anh Nguyễn H S vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án do trong hồ sơ đã có đủ lời khai nên căn cứ khoản Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự Tòa án xét xử vắng mặt người chứng kiến.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (tập 2 bút lục 78-79), Vật chứng (bút lục 137), kết luận giám định (bút lục 42). Qua đó, đã có đủ cơ sở để xác định: Từ ngày 19/11/2024 đến ngày 30/11/2024, tại phòng số X nhà nghỉ “Minh P" thuộc ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố B, phường T, tỉnh Đồng Nai), Thiều Văn T và Trương Thị Huyền Tr có hành vi 12 (mười hai) lần tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (nay là Công an phường Tân Triều, tỉnh Đồng Nai) kiểm tra, phát hiện, lập hồ sơ xử lý.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18/12/2024, tại phòng trọ thuộc ấp Y, xã E, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố Y, phường T, tỉnh Đồng Nai) do Trương Thị Huyền Tr thuê trọ, Tr, Phan Nhựt M1 và Nguyễn H S có hành vi 01 (một) lần tổ chức cho nhau và tổ chức cho Đặng Hùng M sử dụng trái phép chất ma tuý.

Vào ngày 18/12/2024, Tr còn có hành vi cất giấu 3,3022gam ma tuý, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng lần sau thì bị Công an xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (nay là phường Tân Triều, tỉnh Đồng Nai) kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Trương Thị Huyền Tr 13 (mười ba) lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Thiều Văn T 12 (mười hai) lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và bị cáo Trương Thị Huyền Tr đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo Thiều Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

. Xét nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, gia đình bị cáo T có công với cách mạng (ông nội của T được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất), bị cáo Tr đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.

. Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau khi giám định đựng trong gói niêm phong số: 2479/KL-KTHS ngày 06/12/2024 của Giám định viên Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Nai là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong số 2479/KL-KTHS ngày 06/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 vỏ chai nhựa màu trắng gắn đoạn ống nhựa, 01 (một) kéo kim loại, 01 (một) bật lửa gas màu vàng, 01 (một) cân tiểu ly điện tử là dụng cụ Thiều Văn T và Trương Thị Huyền Tr sử dụng phạm tội.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một) cân tiểu ly điện tử và 01 (một) điện thoại hiệu OPPO Renno 5, số imei 1: 865545055515991, số imei 2: 865545055515983, số điện thoại: 0964.984.447 của Trương Thị Huyền Tr sử dụng vào việc phạm tội.

- Trả lại cho bị cáo Trương Thị Huyền Tr 01 (một) điện thoại hiệu OPPO F9, số điện thoại: 0977.356.753 (không mở được nguồn nên không kiểm tra được bên trong) do không liên quan đến vụ án.

. Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng H (chưa rõ lai lịch) và người thanh niên giao hàng (shipper) có hành vi bán và giao ma túy cho Thiều Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Đối với Phan Nhựt M1 và Nguyễn H S đã có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, đã bị khởi tố tách vụ án và xét xử ngày 24/9/2025.

Đối với Đặng Hùng M có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai ra quyết định xử phạt hành chính.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 , khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Trương Thị Huyền Tr phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng điểm a,b khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 , khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015

Xử phạt bị cáo Trương Thị Huyền Tr: 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là: 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù được Th từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc hoặc bị bắt để thi hành án

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ Luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Thiều Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Thiều Văn T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ Luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017

Tổng hợp hình Phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ Luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 theo bản án số 77/2025/HS - ST ngày 04/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù Th từ ngày 30/11/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong số 2479/KL-KTHS ngày 06/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 (một) vỏ chai nhựa màu trắng gắn đoạn ống nhựa, 01 (một) kéo kim loại, 01 (một) bật lửa gas màu vàng, 01 (một) cân tiểu ly điện tử là dụng cụ Thiều Văn T và Trương Thị Huyền Tr sử dụng phạm tội.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một)cân tiểu ly điện tử và 01 (một) điện thoại hiệu OPPO Renno 5, số imei 1: 865545055515991, số imei 2: 865545055515983, số điện thoại: 0964.984.447 của Trương Thị Huyền Tr sử dụng vào việc phạm tội.

- Trả lại cho bị cáo Trương Thị Huyền Tr 01 (một) điện thoại hiệu OPPO F9, số điện thoại: 0977.356.753 (không mở được nguồn nên không kiểm tra được bên trong) do không liên quan đến vụ án.

(hiện đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Đồng Nai theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/11/2025).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trương Thị Huyền Tr và Thiều Văn T mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Đồng Nai;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Đồng Nai;

(đã ký)

- VKSND khu vực 1 – Đồng Nai;

- Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;

- Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;

- Phân trại tạm giam khu vực Vĩnh Cữu/Trại tạm giam số 1 – Đồng Nai;

- Bị cáo;

- Lưu HS, THS.

Lê Hồng Ngọc

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Số: 35/2026/TB-TA

Đồng Nai, ngày 10 tháng 02 năm 2026

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 355/2025/HS-ST, ngày 31/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai đối với bị cáo Trương Thị Huyền Tr + Đồng phạm có sai sót cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

- Tại phần lý lịch bị cáo dòng 10 trang thứ 2 từ dưới đếm lên của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“ Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/11/2024, sau đó chuyển tạm giam cho...........”

- Tại phần quyết định dòng 06 trang thứ 9 từ dưới đếm lên của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“…..Thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2024…..”

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

- Tại phần lý lịch bị cáo dòng 10 trang thứ 2 từ dưới đếm lên của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“ Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/12/2024, sau đó chuyển tạm giam cho...........”

- Tại phần quyết định dòng 06 trang thứ 9 từ dưới đếm lên của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“…..Thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2024…..”

Cỡ chữ