- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HS-ST Ngày 28 tháng 9 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Soái
Các hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Huỳnh Tấn Sinh
2/ Ông Nguyễn Minh Nguyệt
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Bảo Thụy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2023/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/HSST- QĐ ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Văn H; sinh năm 1994 tại tỉnh Quảng Nam.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn H, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Lê Văn H1, sinh năm 1965 và bà Hồ Thị H2, sinh năm 1968. Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con út trong gia đình.
Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 19/3/2019, bị Chủ tịch UBND xã B áp dụng hình thức xử lý vi phạm hành chính giáo dục tại xã trong thời gian 03 tháng, bị cáo đã chấp hành xong.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2023 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Văn H là người nghiện ma túy tại địa phương. Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/7/2023, H đi bộ từ nhà nghỉ C ở tổ dân phố C, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk ra bến xe buýt. Tại đây, H bắt xe đi đến thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để đi mua ma túy về sử dụng. Sau khi đến ngã sáu, H bắt xe thồ đến khu vực nghĩa địa đường P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, gặp một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá thì người này đồng ý. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu gói ma túy trong túi nhỏ phía trước bên phải quân Jean lửng màu đen H đang mặc rồi bắt xe buýt về lại huyện K. Khi đến khu vực H huyện K thì H xuống xe rồi đi bộ về Nhà nghỉ C theo đường T. Đến 09 giờ 30 ngày 06/7/2023, khu H đang đi bộ thì bị lực lượng Công an huyện K phát hiện, kiểm tra, khi đó H giao nộp 01 gói chứa chất dạng tinh thể màu trắng, H khai là ma túy H vừa mua để sử dụng. Công an huyện K đã lập biên bản bắt quả tang và thu giữ trong túi nhỏ phía trước, bên phải quần Jean lửng màu đen Lê Văn H đang mặc 01 gói nylon, bên trong có chứa Chất dạng tinh thể màu trắng. Sau đó Công An huyện K đã tiến hành niêm phong theo quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định số 841/KL-KTHS, ngày 13/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1154 gam, loại: Methamphetamine.
Cáo trạng số 27/CT-VKS-HS ngày 29/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, bị cáo xác định có hành vi tàng trữ 0,1154 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 0,0868 gam ma túy Methamphetamine (số lượng còn lại sau giám định).
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người lương thiện, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Do ý thức coi thường luật pháp nên vào khoảng khoảng 09 giờ 30 phút ngày 06/7/2023, tại khu vực đường T, thuộc tổ dân phố C, thị trấn B, huyện K. Lê Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy để sử dụng thì bị Công an huyện K, tỉnh Đắk Lắk phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ 01 (một) gói ny lon, bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,1154 gam, loại: Methamphetamine. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)………………………………………………………
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…………………………”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma tuý, là nguyên nhân trực tiếp gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, là nguyên nhân lây lan căn bệnh HIV-AIDS, gia tăng các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, buộc phải biết chất ma tuý được Nhà nước quản lý, mọi hành vi mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép đều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,1154 gam Methamphetamine là chất ma tuý để sử dụng. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Trong tình hình hiện nay, tình trạng sử dụng trái phép chất ma tuý ngày một gia tăng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều gia đình, kéo theo các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã phân tích ở trên. Cần áp dụng hình phạt nghiêm mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu, tiêu hủy 0,0868 gam ma túy Methamphetamine (số lượng còn lại sau giám định).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2023.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 0,0868 gam ma túy Methamphetamine (số lượng còn lại sau giám định) có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
[3] Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TANDTC; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Công an huyện Krông Ana; - Chi cục THADS K; - Bị cáo; đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hữu Soái |