vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự đối với Phạm Quốc T phạm tội "Sản xuất hàng cấm" - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 35/2023/HS-ST

Ngày: 27/04/2023

THỊ XÃ KINH MÔN Độc lập -Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lựu và bà Nguyễn Thị Bình. - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ly - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Long - Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2023/TLST-HS ngày 27/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo: Họ và tên: Phạm Quốc T, sinh năm 2001 tại: Thị xã K, tỉnh Hải Dương; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: KDC D, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Phạm Công C và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2023 đến ngày 16/01/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa. * Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Th- Vắng mặt tại phiên tòa. * Người chứng kiến: Ông Nguyễn Quang H - Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng cuối tháng 12/2022, Phạm Quốc T có ý định tự làm pháo nổ để đốt chơi trong dịp tết Nguyên Đán. T đã sử dụng điện thoại di động Smatphone truy cập vào trang Youtube xem các video hướng dẫn cách sản xuất pháo nổ rồi vào mạng xã hội FaceBook để tìm mua pháo bông. T đã sử dụng ứng dụng Messenger (ứng dụng nghe gọi trong Facebook) để liên hệ mua pháo bông của một người phụ nữ không quen biết

trên mạng Facebook đặt mua khoảng 70 bó pháo bông (mỗi bó có khoảng 03 đến 04 que) với giá 500.000 đồng. T cung cấp địa chỉ của T để giao nhận hàng đặt mua. Đến ngày 05/01/2023 có một người thanh niên không quen biết đeo khẩu trang đi xe máy đến nhà T giao cho T 02 túi nilon màu đen bên trong là các cuộn pháo bông, T nhận và đưa cho người này 500.000 đồng trả tiền hàng. Sau đó T cất giấu tại gầm cầu thang tầng 1 nhà T và đi mua 01 cuộn băng dính màu đen và lấy giấy vở học sinh cũ, giấy A4 của T để làm pháo nổ. Cách thức làm pháo nổ: T lấy từ 10 đến 20 que pháo bông đặt vào giữa khổ giấy A4 hoặc giấy học sinh sau đó cuộn chặt lại rồi dùng băng dính đen quấn chặt hai đầu, để thò 2 đến 3 que pháo bông để làm ngòi đốt là làm xong một quả pháo nổ. Trong buổi sáng ngày 07/01/2023, T đã làm được 31 quả pháo nổ rồi cho 11 quả vào 01 thùng bìa cát tông (vỏ đựng nước uống); 20 quả còn lại cho vào 01 thùng bìa cát tông (thùng đựng mì chính). Đến khoảng 14 giờ cùng ngày T bê 02 thùng pháo nổ đi bộ từ nhà ra khu vực nghĩa trang ở gần nhà T để cất giấu. Khi T đi đến ngõ 1084 đường T, phường P, thị xã K thì bị Tổ công tác thuộc Phòng Hình sự Công an tỉnh Hải Dương phối hợp với Công an phường P kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của T gồm: 01 thùng các tông (vỏ đựng nước uống) kích thước (20 x 26 x34)cm bên trong đựng 11 vật thể hình trụ kích thước dài khoảng 18cm, đường kính khoảng 6cm, quấn băng dính màu đen ở hai đầu; 01 thùng các tông (vỏ đựng mì chính) kích thước (26 x28 x35)cm, bên trong đựng 20 vật thể hình trụ, kích thước dài khoảng 22cm, đường kính khoảng 06cm, quấn băng dính màu đen hai đầu. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Quốc T tại số nhà 1189, đường T, khu dân cư D, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương, kết quả: Thu giữ tại vị trí gầm cầu thang tầng 1 nhà ở của Phạm Quốc T 01 túi nilon màu đen bên trong túi đựng 62 bó hình trụ được buộc nịt cao su, mỗi bó gồm nhiều que dài 26cm, một đầu que màu đỏ đường kính khoảng 0,1cm. Phạm Quốc T trình bày những chiếc que kể trên là pháo bông, nguyên liệu để T làm pháo nổ, mục đích để đốt trong dịp tết Nguyên Đán. Tại bản kết luận giám định số 34/KL- KTHS ngày 09/01/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: 31 vật hình trụ tròn cao từ 15,5 đến 21,5cm, đường kính từ 6 đến 6,5cm, bên ngoài quấn bằng giấy nhiều lớp và băng dính màu đen, một đầu có gắn que tre, que tre được bọc một lớp bột màu xám, tất cả đều là pháo nổ. Tổng khối lượng là 13,248kg. 62 bó hình trụ được buộc nịt cao su, mỗi bó gồm nhiều que dài 26cm, một đầu que bọc chất bột màu xám, một đầu que có màu đỏ. Các vật này là sản phẩm phát ra tín hiệu ánh sáng, không phải là pháo nổ. Tổng khối lượng các vật là 4kg. Hoàn lại 12,453kg pháo nổ và 4kg sản phẩm phát ra tín hiệu ánh sáng.

Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 26/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đã truy tố Phạm Quốc T về tội “Sản xuất hàng cấm” theo khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Phạm Quốc T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, nay đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Sản xuất hàng cấm”. Căn cứ khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Sản xuất hàng cấm”. Xử phạt Phạm Quốc T từ 18 đến 21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Không đặt ra việc xử lý. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Lời khai nhận tội của Phạm Quốc T tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Khoảng cuối tháng 12/2022 tại chỗ ở của Phạm Quốc T ở tại số nhà 1189, đường T, khu dân cư D, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương, T có hành vi

mua các nguyên vật liệu để làm pháo nổ, mục đích để đốt trong dịp tết Nguyên Đán. Sáng ngày 07/01/2023, T đã tự làm được 13,248kg pháo nổ và cho vào 02 thùng các tông. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T đem số pháo đi cất giấu, khi đi đến Ngõ số 1084 đường T, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương thì lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng nêu trên. Khám xét chỗ ở của T còn thu giữ 62 bó hình trụ là sản phẩm phát ra tín hiệu ánh sáng là nguyên liệu để sản xuất pháo nổ. Hành vi nêu trên của Phạm Quốc T đã phạm vào tội “Sản xuất hàng cấm” theo khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự, bởi lẽ: [3] Hành vi của Phạm Quốc T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực mặt hàng pháo nổ - Một khách thể mà Bộ luật Hình sự đã quy định và bảo vệ. Pháo nổ là mặt hàng Nhà nước độc quyền quản lý. Nhà nước đã có quy định nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo. Bởi lẽ, mọi hành vi sản xuất, lưu thông, sử dụng pháo nổ có nguy cơ gây ra nổ làm thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản. Đồng thời việc đốt pháo gây ra lãng phí rất lớn tiền của cho xã hội. Mặc dù nhận thức rõ được điều đó nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật của nhà nước lén lút sản xuất pháo nổ với khối lượng là 13,248kg gây mất trật tự, trị an trên địa bàn. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn đã truy tố bị cáo theo bản cáo trạng là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Với hành vi của mình, bị cáo T phải chịu một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Để hình phạt đó không chỉ là sự trừng trị của pháp luật đối với người phạm tội mà còn là bài học để dăn đe, giáo dục chung trong cộng đồng. [4] Xem xét, cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; quá trình học tập bị cáo nhiều lần được tặng Giấy khen; năm 2022 bị cáo đã ủng hộ quỹ Bảo trợ nạn nhân da cam được Ban chấp hành Hội Chữ thập đỏ thành phố Hải Dương tặng Giấy khen nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. [5] Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. [6] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ của hành vi, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đã thu giữ 13,248kg pháo nổ và 62 bó hình trụ có khối lượng là 4kg là sản phẩm phát ra tín hiệu ánh sáng, không phải là pháo nổ. Sau khi giám định hoàn lại 12,453kg pháo nổ và 4kg sản phẩm phát

ra tín hiệu ánh sáng. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Kinh Môn đã tịch thu cho tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Do vậy không đặt ra xử lý. [8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Sản xuất hàng cấm”. Xử phạt Phạm Quốc T 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Quốc T cho Ủy ban nhân dân phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chịu thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Về án phí: Bị cáo Phạm Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Báo bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ