vanban.org

Bản án 35/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 30/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Văn Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Y 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày 13/5/2019. 2/ Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 35/2019/HS-ST Tuyên án 30/08/2019
Phúc thẩm Bản án 257/2019/HSPT-QĐ Tuyên án 14/10/2019

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Y - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Trần Văn Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁP MƢỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2019/HS-ST
Ngày: 30-8-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƢỜI,

TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Huỳnh Chí Thiện;

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Văn Hiến;

Ông Lê Văn Vững;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thống Nhất là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo:

- Trần Văn Y, sinh năm: 1993 tại Đồng Tháp; Đăng ký HKTT: Khóm 4, thị trấn Mỹ An, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 03/12; Cha tên: Trần Văn L, sinh năm 1968 (đã chết); Mẹ tên: Cao Thị T, sinh năm: 1967; Gia đình bị cáo có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Vợ tên: Trương Thị Phượng L, sinh năm 1991 và có 02 người con, (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017); Tiền án: ngày 21/12/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 01 (một) năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 02/8/2017; Tiền sự: Ngày 10/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Tạm giam ngày: 13/5/2019 (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Anh Trần Văn L, sinh năm 1982 (có mặt);

Địa chỉ: ấp 5B, xã Trường Xuân, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/8/2018, Trần Văn Y bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 05/9/2018, Yên trốn khỏi trại cai nghiện về thị trấn Mỹ An, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Đến khoảng 8 giờ, ngày 12/4/2019, Yên thuê honda chở khách thuê đi từ thị trấn Mỹ an huyện Tháp Mười, Đồng Tháp đến xã Trường Xuân huyện Tháp Mười, Đồng Tháp để tìm mẹ là bà Cao Thị T, làm nghề bán vé số ở chợ Trường Xuân nhưng không gặp nên Yên đi bộ từ xã Trường Xuân về hướng xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, Đồng Tháp. Trên đường đi, đến đoạn đường kênh K27 thuộc ấp 5B, xã Trường Xuân, thấy 03 chiếc xe môtô đang đậu dưới mé lộ kênh K27, trong đó có 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Wave alpha màu xanh, biển kiểm soát 52M8-7141 của anh Trần Văn Lanh đi làm cỏ thuê và đậu ở mé lộ kênh K27, trên xe có gắn chìa khóa không người trong coi nên Y nảy sinh ý định trộm xe để làm phương tiện đi lại. Yên lén lút lấy trộm xe môtô 52M8-7141 đạp nổ máy, điều khiển về hướng chợ Trường Xuân. Anh L đang ở ngoài ruộng phát hiện xe bị lấy trộm nên điện thoại cho chị Võ Thị P nhà gần cầu kênh K27 cùng người dân đến cầu kênh K27 chặn đường bắt Yên. Khi Y điều khiển xe đến gần cầu K27 thì bị chị P cùng với anh Trần Văn T, anh Đoàn Văn B, anh Nguyễn Văn C dùng xe môtô chắn ngang đường bắt Y cùng chiếc xe vừa trộm được giao cho Công an xã Trường Xuân.

Xe môtô nhãn hiệu Wave alpha biển kiểm soát 52M8-7141, màu xanh, số máy FMH81000633, số khung 66001601 do Y trộm, là xe của anh L mua của một người không nhớ họ tên, địa chỉ ở thành phố Hồ Chí Minh với giá 4.500.000 đồng để làm phương tiện đi lại đến ngày 12/4/2019 thì bị mất trộm.

Tại bản kết luận định giá số 19 ngày 25/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tháp Mười kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha, màu xanh, biển kiểm soát 52M8-7141, trị giá 2.100.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Trần Văn L bị mất trộm chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Wave alpha, biển kiểm soát 52 M8-7141 trên.

Về vật chứng: 01(một) xe mô tô, nhãn hiệu Wave alpha, biển kiểm soát 52 M8-7141, màu xanh, số máy FMH81000633, số khung 66001601 của bị hại anh Trần Văn L. 01(một) bóp màu nâu vàng và tiền Việt Nam 102.000 đồng của bị cáo Y.

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSTM ngày 25 tháng 7 năm 2019, của Viện kiểm sát huyện Tháp Mười, đã truy tố các bị cáo Trần Văn Y về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Y với mức án từ 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh bị cáo gặp khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự đã xử lý xong nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: 01(một) xe mô tô, nhãn hiệu Wave alpha, biển kiểm soát 52 M8-7141, màu xanh, số máy số máy FMH81000633, số khung 66001601 đã trả cho bị hại anh Trần Văn L. 01(một) bóp màu nâu vàng và tiền Việt Nam 102.000 đồng đã trả cho bị cáo Y, nên không đặt vấn đề xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Y đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Văn Y đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 40/CT-VKSTM ngày 25/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là đúng với hành vi của bị cáo. Chính bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại nên đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt một xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha biển số 52M8-7141 vào ngày 12/4/2019 của anh Trần Văn L thuộc địa bàn ấp 5B, xã Trường Xuân, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm ngàn đồng).

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng, kết luận định giá và các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn Y đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của bị hại một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương nơi xảy ra vụ án. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, đã có tiền án tiền sự, bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi của mình, bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì lòng tham và xem thường pháp luật, bị cáo muốn nhanh chóng có tài sản để phục vụ cho nhu cầu cá nhân của bản thân mà không phải tốn mồ hôi và công sức lao động như bao nhiêu người lao động lương thiện trong xã hội nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại, để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của họ, trong vụ án này bị cáo đã thực hiện tội phạm vì động cơ tư lợi, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, lẽ ra bị cáo phải chí thú làm ăn nhưng bị cáo lười lao động muốn chiếm đoạt tài sản của người khác sử dụng riêng cho mình. Bị cáo từng có tiền án về tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Với hành vi nêu trên, cần áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo, trở thành người tốt, có ích cho gia đình và cho xã hội. Đồng thời đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tiền án: ngày 21/12/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 01 (một) năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 02/8/2017. Đây là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh của bị cáo gặp khó khăn, vợ của bị cáo đang nuôi 02 đứa con nhỏ, mẹ của bị cáo đã lớn tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tất cả tài sản bị chiếm đoạt và tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại không còn yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: 01(một) xe mô tô, nhãn hiệu Wave alpha, biển kiểm soát 52 M8-7141, màu xanh, số máy số máy FMH81000633, số khung 66001601 đã trả cho bị hại anh Trần Văn L 01(một) bóp màu nâu vàng và tiền Việt Nam 102.000 đồng đã trả cho bị cáo Y nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về án phí: Bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười về tội danh, khung hình phạt, phần dân sự và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tháp Mười, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Văn Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Y 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày 13/5/2019.

2/ Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong.

3/ Về xử lý vật chứng: 01(một) xe mô tô, nhãn hiệu Wave alpha, biển kiểm soát 52 M8-7141, màu xanh, số máy số máy FMH81000633, số khung 66001601đã trả cho bị hại anh Trần Văn L. 01(một) bóp màu nâu vàng và tiền Việt Nam 102.000 đồng của bị cáo Y xong.

4/ Về án phí: Bị cáo Trần Văn Y được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

5/ Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ