- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Thùy - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Buôn bán hàng cấm".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2019/HS-ST Ngày 24 - 4 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hải
Ông Nguyễn Tất Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kỳ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Ông Bùi Nguyên Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXXST-HS ngày 12/4/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên Phạm Thị T - Sinh ngày 22 tháng 8 năm 1988 tại Huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: khối 1 TT, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình Q và bà Vũ Thị M; Chồng: Nguyễn Văn H, sinh năm 1987 và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh số 23 ngày 14/01/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/01/2019 nhận được tin báo của quần chúng về việc Lương Thế Thắng đang tàng trữ pháo nổ trái phép nên Công an huyện Đô Lương đã trực tiếp làm việc Thắng. Thắng đã tự giác giao nộp 03 bịch pháo và khai nhận trước đó đã mua của Phạm Thị T với số tiền 2.400.000 đồng. Cùng ngày, Công an huyện Đô Lương đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thị T và thu giữ được 22 hộp pháo tại gầm giường phòng ngủ của T. Tất cả 25 hộp pháo đã được niêm phong đúng quy định.
Tại cơ quan điều tra, T khai nhận, 22 hộp pháo T đang tàng trữ và 03 hộp pháo đã bán cho Thắng có nguồn gốc của chị Nguyễn Thị Liên (là người hàng xóm của T) gửi nhờ T bán vào dịp Tết Nguyên đán. T cũng tự giác giao nộp số tiền bán pháo là 2.400.000 đồng.
Ngày 07/01/2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Kết quả: 03 hộp thu giữ của Lương Thế Thắng có khối lượng 4,078kg; 22 hộp thu giữ của Phạm Thị T có khối lượng 30,137 kg; trích mẫu giám định 01 hộp thu giữ của Thắng và 01 hộp thu giữ của T theo Quyết định trưng cầu giám định số 28 ngày 08/01/2019.
Ngày 11/01/2019, Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An đã ban hành Kết luận giám định, phản ánh:
Mẫu vật thu giữ của Lương Thế Thắng gửi tới giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
Mẫu vật thu giữ của Phạm Thị T gửi tới giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
Đối tượng giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Ngoài 25 hộp pháo, cơ quan điều tra còn thu giữ từ bị cáo T số tiền 2.400.000 đồng tiền bán pháo do T giao nộp.
Ngày 18/02/2019, cơ quan điều tra nộp số tiền 2.400.000 đồng vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện Đô Lương; 23 hộp pháo còn lại đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện Đô Lương.
Tại bản cáo trạng số 28/VKS-HS ngày 12/3/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố và tỏ ra ăn năn hối cải, cam đoan sẽ không bao giờ tái phạm và đã nhận thức được tính nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Hiện bị cáo đang mang thai và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 190; Điều 65; điểm n, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng theo quy định tại điều 46, điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tiêu hủy số pháo còn lại, sung quỹ nhà nước số tiền 2.400.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
- Trong quá trình điều tra: Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; khám xét chỗ ở và xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn.
- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.
Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Về nội dung:
Vào khoảng đầu tháng 12 năm 2018, Phạm Thị T đã tàng trữ 25 hộp pháo nổ có khối lượng 34,215kg nhằm mục đích bán vào dịp Tết Nguyên đán. Đến ngày 31/12/2018, tại nhà ở thuộc khối 1 TT, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, T đã bán cho Lương Thế Thắng 03 hộp pháo khối lượng 4,078kg với giá 2.400.000 đồng; còn 22 hộp pháo nổ T chưa kịp bán thì bị cơ quan điều tra bắt giữ. Như vậy, hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 190 Bộ luật hình sự đúng như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương.
Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế (kinh doanh mặt hàng pháp luật cấm), làm ảnh hưởng đến sự bình thường của hoạt động quản lý nhà nước về pháo và sử dụng pháo. Do vậy, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và thật sự ăn năn hối cải (là hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự); bị cáo đang mang thai (là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự). Việc phạm tội chưa gây ra hậu quả về an ninh trật tự trên thực tế. Bị cáo có nhân thân tốt và đây là lần đầu bị đưa ra xét xử, bản thân trình độ học vấn thấp (chỉ dừng lại ở cấp bậc phổ thông cơ sở) nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, có nơi cư trú rõ ràng và trong quá trình lao động, sinh hoạt tại địa phương đều chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho cải tạo tại địa phương để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: 02 hộp pháo thu giữ của bị cáo T và Lương Thế Thắng đã được sử dụng hết vào mục đích giám định kỹ thuật hình sự nên không xem xét; số pháo còn lại (23 hộp) là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy; 2.400.000 đồng là tiền thu lợi bất chính cần tịch thu vào ngân sách nhà nước.
Các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ tên là Nguyễn Thị Liên theo lời khai của bị cáo T là người gửi pháo nhờ T bán hộ nhưng do chị Liên không có mặt ở địa phương, không rõ nơi cư trú hiện tại nên cơ quan điều tra chưa thu thập được lời khai. Vì vậy, chưa có đủ cơ sở để xác định mức độ liên quan của chị Liên trong vụ án.
Đối với hành vi tàng trữ 3 hộp pháo nổ có khối lượng 4,078kg của Lương Thế Thắng thì do hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Chủ tịch UBND huyện Đô Lương đã xử phạt hành chính đối với Thắng là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: bị cáo Phạm Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Buôn bán hàng cấm".
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phạm Thị T 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân TT, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân TT trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
- Biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy: 23 hộp pháo có hình khối vuông được niêm phong trong 01 bao tải màu cam, 01 bao tải màu trắng và 01 túi nilông màu xanh nước biển hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng công an huyện Đô Lương theo Phiếu nhập vật chứng ngày 05/02/2019.
Tịch thu vào Ngân sách nhà nước số tiền 2.400.000 đồng do Phạm Thị T giao nộp hiện đang được tạm giữ tại Kho bạc nhà nước huyện Đô Lương theo tài khoản tạm giữ của Công an huyện Đô Lương số 3949.0.105362900000 theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 18/02/2019.
- Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Đô Lương; - VKSND tỉnh Nghệ An; - CQĐT Công an huyện Đô Lương; - CQTHAHS huyện Đô Lương; - CCTHADS huyện Đô Lương; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hồng Thể |