vanban.org

Bản án 348/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 12/06/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tố tụng Hình sự năm 2015,

Sửa một phần bản án sơ thẩm: luật Hình sự năm 1999, xử phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình T - phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? tố tụng Hình sự năm 2015,
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng điều 60 của…; Điều 248 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 348/2018/HS-PT
Ngày: 12-6-2018

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh

Các thẩm phán: Bà Đặng Thị Thanh Huyền

Bà Nguyễn Thị Xuân Thu

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoa - Thư

ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên

tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà

Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 323/2018/TLPT-HS ngày 16 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo Vũ Đình T và các bị cáo khác do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội và kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2018/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Hà Nội.

* Các bị cáo có kháng cáo:

1. VŨ ĐÌNH T, sinh ngày 18/8/1973 tại Hà Nội; ĐKHKTT và nơi cư

trú: thôn T Â, xã T X T, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình C (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; có vợ Đỗ Thị Đ và 04 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/12/2017 đến ngày 16/12/2017, hiện tại ngoại có mặt.

2. NGUYỄN VIẾT H (tên gọi khác Nguyễn Viết H1), sinh ngày

22/10/1955 tại Hà Nội; ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn T Â, xã T X T, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết D và bà Nguyễn Thị D; có vợ Lê Thị T và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1981, con nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/12/2017 đến ngày 16/12/2017, hiện tại ngoại có mặt.

3. VŨ VĂN C, sinh ngày 12/5/1962 tại Hà Nội; ĐKHKTT và nơi cư

trú: thôn T Â, xã T X T, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn C (đã chết) và bà Cao Thị N; có vợ Đỗ Thị Đ và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/12/2017 đến ngày 16/12/2017, hiện tại ngoại có mặt.

Ngoài ra còn có 02 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng

cáo, kháng nghị:

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 08/12/2017, Vũ Đình T đang ở nhà tại

thôn T Â, xã T X T, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội gọi điện rủ Vũ Văn C, Lê Văn D, Lê Quý A, Nguyễn Viết H (tên khác Nguyễn Viết H1) đều ở cùng thôn đến nhà của T để chơi đánh bạc dưới hình thức đánh chắn được thua bằng tiền, tất cả đều đồng ý. Khoảng 13 giờ cùng ngày tất cả tập trung tại nhà của T, T lấy 01 bộ bài chắn gồm 100 quân bài, 01 đĩa men sứ trắng làm công cụ để mọi người đánh bạc. T thống nhất với những người chơi là đến ván bài cuối cùng, trước khi nghỉ không đánh bạc nữa thì những người đến đánh bạc phải lấy ra 100.000 đồng trong hội gom chung để đưa cho T, gọi là tiền phục vụ thuốc, nước, tất cả đều nhất trí. Sau khi thống nhất xong thì T đi ra ngoài có việc để 04 người ở lại nhà T đánh bạc. Tất cả quy định chơi theo hình thức đánh gom: mỗi người sẽ gom 100.000 đồng vào giữa chiếu bạc, người nào ù xuông sẽ được lấy 20.000 đồng, ù dịch được 10.000 đồng, ù tôm 40.000 đồng, ù lèo 50.000 đồng, ù bạch định 60.000 đồng, ù tám đỏ 70.000 đồng. Khi hết tiền trong hội sẽ gom tiếp mỗi người 100.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Chương Mỹ và Công an xã Thuỷ Xuân Tiên bắt quả tang D, A, C, H đang đánh bạc bằng hình thức đánh chắn được thua bằng tiền tại nhà ở của Vũ Đình T, Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật có liên quan gồm: 01 bộ bài chắn gồm 100 quân bài; 01 đĩa men sứ; Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 3.370.000 đồng, thu trên trong người các đối tượng là 2.020.000 đồng (gồm của Lê Văn D 250.000 đồng, Lê Quý A 660.000 đồng, Vũ Văn C 1.110.000 đồng). Tổng số tiền thu giữ là 5.390.000 đồng. Đến ngày 11/12/2017, Vũ Đình T đã đến Công an huyện Chương Mỹ trình báo.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 47/2018/HSST ngày 04 tháng 4 năm

2018 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Vũ Đình T, Nguyễn Viết H (tên gọi khác Nguyễn Viết H1) và Vũ Văn C phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 248; điểm p, h khoản 1 Điều 46 Bộ Luật hình sự

năm 1999, xử phạt:

- Bị cáo Vũ Đình T 06 (sáu) tháng tù trừ đi 06 ngày tạm giữ còn phải

thi hành 05 tháng 24 ngày tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Bị cáo Nguyễn Viết H (tên gọi khác Nguyễn Viết H1) và bị cáo Vũ

Văn C mỗi bị cáo 05 (năm) tháng tù trừ đi 09 ngày tạm giữ còn phải thi hành 4 tháng 21 ngày tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án còn xử phạt các bị cáo khác hình phạt 04 tháng tù cho

hưởng án treo, thử thách 12 tháng; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/4/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có Quyết

định kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐ-VKSHN ngày 27/4/2018 kháng nghị phần hình phạt đối với các bị cáo Vũ Đình T, Nguyễn Viết H và Vũ Văn C. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm theo hướng giữ nguyên hình phạt tù nhưng cho các bị cáo Vũ Đình T, Nguyễn Viết H và Vũ Văn C được hưởng án treo.

Ngày 12/4/2018 các bị cáo Vũ Đình T, Nguyễn Viết H và Vũ Văn C

đều có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo.

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Đình T, Nguyễn Viết H và Vũ Văn C đã khai

nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quy kết. Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo với lý do bị cáo T là lao động chính trong gia đình đang phải nuôi mẹ già và con nhỏ; bị cáo H tuổi đã cao, sức khỏe yếu, chỉ có hai vợ chồng sống dựa vào nhau và bị cáo C phải phụng dưỡng mẹ già và nuôi con nhỏ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa sau khi

tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, xem xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội và kháng cáo của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội. Cụ thể áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Đình T 06 tháng tù, cho hưởng án treo thử thách 12 tháng; bị cáo Nguyễn Viết H 05 tháng tù, cho hưởng án treo thử thách 12 tháng và bị cáo Vũ Văn C 05 tháng tù, cho hưởng án treo thử thách 12 tháng. Giao các bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Đình T, Nguyễn Viết H và Vũ Văn

C tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 08/12/2017, tại nhà của Vũ Đình T ở thôn T Â, xã T X T, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội, Vũ Đình T đã có hành vi rủ rê, dùng nhà ở của mình, chuẩn bị công cụ là 01 đĩa men sứ và 01 bộ bài chắn cho các bị cáo Nguyễn Viết H, Lê Quý A, Vũ Văn C và Lê Văn D đánh bạc dưới hình thức “đánh chắn” được thua bằng tiền, tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 5.390.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Đình T, Nguyễn Viết H và Vũ Văn C đã bị Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Đình T, Nguyễn Viết H và Vũ Văn C

xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án; vai trò của từng bị cáo trong vụ án; thái độ khai báo thành khẩn; xem xét nhân thân của các bị cáo tốt, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đã quyết định mức hình phạt 06 tháng tù đối với bị cáo Vũ Đình T và 05 tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Viết H, Vũ Văn C đều cùng về tội “Đánh bạc” là phù hợp. Tuy nhiên buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội là không cần thiết, bởi lẽ các bị cáo phạm tội mang tính bột phát; số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn; các bị cáo đều có nhân thân tốt; bản thân các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình và đều có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do vậy căn cứ vào Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì bị cáo Vũ Đình T, Nguyễn Viết H và Vũ Văn C đủ điều kiện cho hưởng án treo. Chính vì vậy có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội và kháng cáo của bị cáo Vũ Đình T, Nguyễn Viết H, Vũ Văn C, thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát và giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ để cải tạo các bị cáo trở thành con người có ích cho xã hội.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Các bị cáo kháng cáo được cấp phúc thẩm chấp nhận nên không

phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật

tố tụng Hình sự năm 2015,

1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ

luật Hình sự năm 1999, xử phạt:

- Bị cáo Vũ Đình T 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử

thách là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 12/6/2018 về tội “Đánh bạc”.

- Bị cáo Nguyễn Viết H (tên khác Nguyễn Viết H1) 05 (Năm) tháng

tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 12/6/2018 về tội “Đánh bạc”.

- Bị cáo Vũ Văn C 05 (Năm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử

thách là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 12/6/2018 về tội “Đánh bạc”.

Giao bị cáo Vũ Đình T, Nguyễn Viết H (tên khác Nguyễn Viết H1) và

Vũ Văn C cho UBND xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Về án phí: bị cáo Vũ Đình T, Nguyễn Viết H (tên khác Nguyễn Viết

H1) và Vũ Văn C không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo

khác, xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ