vanban.org

Bản án 340/KDTM-PT — Tranh chấp về cung ứng dịch vụ

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cung ứng dịch vụ — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 340/KDTM-PT
Ngày: 29/9/2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Lê Thị Quỳnh Anh

Các Thẩm phán:

Bà Trương Thị Quỳnh Trâm

Bà Mai Thị Thanh Tú

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Trần Hồng Long - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 21/8/2025, 16/9/2025 và 29/9/2025, tại trụ sơ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số 131 đường Nam Kỳ Khơi Nghia, phường Bên Thành, Thành phố Hồ Chí Minh đa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thương mại thụ lý số 165/KDTMPT ngày 03/6/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 08/2025/KDTM-ST ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyêt định đưa vụ án ra xét xử số 3374/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 7 năm 2025, Quyêt định hoan phiên tòa số 12119/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 7 năm 2025, Quyêt định tạm ngừng phiên tòa số 16004/2025/QĐPT-KDTM ngày 21 tháng 8 năm 2025 và Quyêt định tạm ngừng phiên tòa số 17321/2025/QĐPT-KDTM ngày 16 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại SG;

Địa chỉ: Phố Đ, phường Đ, quận K (nay là phường CN), Thành phố N;

Địa chỉ chi nhánh: Đường D, Phường F, Quận D (nay là phường KH), Thành phố M;

Người đại diện hợp pháp: Bà H, sinh năm 1985, ông T, sinh năm 1984, ông K, sinh năm 1996 và ông Đ, sinh năm 1997; cùng địa chỉ: Đường D, Phường F, Quận D (nay là phường KH), Thành phố M; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 09/7/2025 (Bà H có mặt).

2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ T;

Địa chỉ: Đường H, Phường L, Quận J (nay là phường HH), Thành phố M;

Người đại diện theo pháp luật: Ông ĐT - Giám đốc (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông AB, sinh năm 1974 (có mặt tại phiên tòa ngày 21/8/2025; vắng mặt tại phiên tòa các ngày 16/9/2025, 29/9/2025);

3.2. Ông VB, sinh năm 1943 (vắng mặt);

3.3. Bà TT, sinh năm 1984 (có mặt tại phiên tòa ngày 21/8/2025; vắng mặt tại phiên tòa các ngày 16/9/2025, 29/9/2025);

3.4. Trẻ T, sinh năm 2010;

3.5. Trẻ S, sinh năm 2012;

Người đại diện theo pháp luật cho trẻ T và trẻ S là: Bà TT, sinh năm 1984; cùng địa chỉ thường trú: Thôn Đ, xa T, huyện L (nay là xa BT), Thành phố N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khơi kiện ngày 23/8/2012, các lời khai trong quá trình giải quyêt vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Ngân hàng Thương mại SG, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Theo đề nghị vay vốn của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T, Ngân hàng Thương mại HN nay là Ngân hàng Thương mại SG – Chi nhánh SG đa cho Công ty T vay vốn theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 1105HCM-CN042/HĐTD-HM/2011 ngày 27/5/2011 và các Phụ lục sửa đổi, bổ sung kèm theo, cụ thể như sau:

- Số tiền cho vay: 2.880.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm tám mươi triệu đồng).

- Thời hạn duy trì hạn mức vay vốn: 12 tháng.

- Thời hạn của khoản vay: Thời hạn của khoản vay là 06 tháng.

- Mục đích sử dụng: Bổ sung vốn lưu động.

- Lai suất cho vay: 23% năm.

- Lai suất cho vay trong hạn: Được quy định cụ thể tại Hợp đồng tín dụng.

- Biên độ cho vay: 3.5%/năm. Lai suất này tự động điều chỉnh 01 tháng/ lần kể từ ngày giải ngân.

Lai suất chậm trả lai: Trường hợp Công ty T không thanh toán lai đúng hạn, thì phải trả lai chậm trả lai theo mức lai suất chậm trả quy định tại thời điểm chậm trả lai và được tính trên số dư lai chậm trả tương ứng với số ngày thực tê chậm trả lai.

Lai suất cho vay quá hạn: Trường hợp khoản vay bị chuyển nợ quá hạn, Công ty T phải trả lai trên số dư gốc quá hạn bằng 150% lai suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn và được tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với số ngày thực tê chậm trả gốc.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay là:

Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD005596, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sơ hữu nhà ơ và tài sản khác gắn liền với đất: 0462, số QĐ; 1118/QĐ-UB. MS: 5770533 do Uỷ ban nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội cấp ngày 28/11/2005.

Tài sản bảo đảm được thê chấp theo Hợp đồng thê chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 003758/2011/HĐTC quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD giữa Ngân hàng Thương mại HN nay là Ngân hàng Thương mại SG – Chi nhánh SG ngày 06/6/2011 tại Văn phòng công chứng Đống Đa, có địa chỉ tại số 347-376 Đê La Thành, Đống Đa, Hà Nội.

Thực hiện Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số: 1105HCM042/HĐTD-HM/2011 ngày 27/5/2011 và các phụ lục sửa đổi, bổ sung kèm theo đa ký kêt, Chi nhánh SG đa giải ngân cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T, đên nay còn các Giấy nhận nợ còn dư nợ, cụ thể như sau:

- Giấy nhận nợ vay số 1105042.002 ngày 27/12/2011 còn nợ số tiền là 480.000.000 đồng;

- Giấy nhận nợ vay số 1105042.003 ngày 28/12/2011 còn nợ số tiền là 700.000.000 đồng;

- Giấy nhận nợ vay số 1105042.004 ngày 29/12/2011 còn nợ số tiền là 1.200.000.000 đồng;

- Giấy nhận nợ vay số 1105042.005 ngày 30/12/2011 còn nợ số tiền là 500.000.000 đồng, Hợp đồng thê chấp quyền sử dụng đất số 003758/2011/HĐTC quyển số 01 ngày 06/6/2011, Đơn yêu cầu đăng ký thê chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 07/6/2011.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng trên, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T đa vi phạm nghiêm trọng nghia vụ trả nợ gốc, lai cho SG. Các khoản nợ trên hiện đa quá hạn 4.657 ngày.

Tạm tính đên ngày 20/02/2025, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T chỉ mới thanh toán cho Ngân hàng 80.912.500 đồng tiền lai và Công ty vẫn còn nợ SG tổng số tiền: 15.036.676.814 đồng (Mười lăm tỷ không trăm ba mươi sáu triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn tám trăm mười bốn đồng), cụ thể như sau:

Nợ gốc: 2.880.000.000 đồng;

Nợ lai trong hạn: 237.354.800 đồng;

Nợ lai chậm trả lai: 555.164.114 đồng;

Nợ lai chậm trả gốc: 11.364.157.900 đồng.

Sau khi phát sinh nợ quá hạn, SG đa làm việc và yêu cầu Công ty T thực hiện nghia vụ trả nợ cho SG nhưng Công ty T không thực hiện. Việc làm của Công ty T đa gây ảnh hương lớn đên quyền và lợi ích hợp pháp của SG.

Ngân hàng SG đề nghị Tòa án giải quyêt những vấn đề sau đây:

Buộc Công ty T phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đên ngày 20/02/2025 là 15.036.676.814 đồng (Mười lăm tỷ không trăm ba mươi sáu triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn tám trăm mười bốn đồng), trong đó: Nợ gốc: 2.880.000.000 đồng; Nợ lai trong hạn: 237.354.800 đồng; Nợ lai chậm trả lai: 555.164.114 đồng; Nợ lai chậm trả gốc: 11.364.157.900 đồng;

- Buộc Công ty T phải trả số tiền lai chậm trả được tính trên số tiền nợ gốc theo thỏa thuận tại Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 1105HCM042/HĐTD-HM/2011 ngày 27/5/2011 và các Giấy nhận nợ kèm theo cho đên khi Công ty T thực hiện xong nghia vụ trả nợ.

-Trường hợp Công ty T không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm cho khoản vay để thu hồi nợ, cụ thể là: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD005596, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sơ hữu nhà ơ và tài sản khác gắn liền với đất: 0462, số QĐ; 1118/QĐ-UB. MS: 5770533 do Uỷ ban nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội cấp ngày 28/11/2005.

Tài sản bảo đảm được thê chấp theo Hợp đồng thê chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 003758/2011/HĐTC quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD giữa Ngân hàng Thương mại HN nay là Ngân hàng Thương mại SG – Chi nhánh SG ngày 06/6/2011 tại Văn phòng công chứng Đống Đa, có địa chỉ tại số 347-376 Đê La Thành, Đống Đa, Hà Nội.

- Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thực hiện nghia vụ trả nợ thì Công ty T tiêp tục có nghia vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đên khi trả hêt nợ.

2. Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T có ý kiên như sau:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T (gọi tắt là Công ty T) xác nhận có vay của Ngân hàng Thương mại HN (nay là Ngân hàng Thương mại SG) một khoản theo đúng Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 1105HCM-CN042/HĐTD-HM/2011 + Phụ lục 1 ngày 27/5/2011 và thê chấp quyền sử dụng đất số công chứng 003758/2011/HĐTD ngày 06/6/2011, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 005596, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 0462. Được nhận nợ theo 04 lần cụ thể như sau:

- Lần 1: Theo Giấy nhận nợ số 1105042.002; Ngày 27/12/2011 nhận nợ 480.000.000 đồng; Ngày đên hạn: 27/6/2012.

- Lần 2: Theo Giấy nhận nợ số 1105042.003; Ngày 28/12/2011 nhận nợ 700.000.000 đồng; Ngày đên hạn: 28/6/2012.

- Lần 3: Theo Giấy nhận nợ số 1105042.004; Ngày 29/12/2011 nhận nợ 1.200.000.000đ; Ngày đên hạn: 29/6/2012.

- Lần 4: Theo Giấy nhận nợ số 1105042.005; Ngày 30/12/2011 nhận nợ 500.000.000 đồng; Ngày đên hạn: 30/6/2012.

Tổng 04 lần nhận nợ là 2.880.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty đa thực hiện đúng nội dung mà hợp đồng đa ký kêt đồng thời tính đên ngày 20/01/2012 Công ty đa thực hiện việc đóng lai đúng hạn cho Ngân hàng theo như thỏa thuận. Do tình hình kinh doanh của Công ty từ đầu năm 2012 đên nay không được khả quan, Công ty nhận thấy với tình hình khó khăn như trên sẽ không có khả năng thanh toán cả lai và gốc cho Ngân hàng theo đúng hạn. Công ty đề xuất hướng giải quyêt là xin được thanh lý tài sản thê chấp để trả cho các khoản nợ gốc và lai phát sinh từ khoản nợ gốc mà Công ty còn nợ Ngân hàng.

3. Người có quyền lợi nghia vụ liên quan:

3.1 Ông AB xác nhận có ký Hợp đồng thê chấp quyền sử dụng đất mà gia đình ông đang sinh sống để Công ty T vay vốn tại Ngân hàng Thương mại HN(nay là Ngân hàng Thương mại SG). Sau đó, Công ty T rút tiền như thê nào, rút bao nhiêu tiền và rút tiền khi nào thì ông không được biêt.

3.2 Ông VB là bố ruột của ông AB, con trai của ông có ký hợp đồng thê chấp với Ngân hàng Thương mại HN (nay là Ngân hàng Thương mại SG). Tài sản bảo đảm là thửa đất số 2, tờ bản đồ số 47 tại thôn Đ xa T, huyện L, Thành phố N. Đây là tài sản của vợ chồng ông nhưng do tuổi cao sức yêu nên vợ chồng ông đa chuyển quyền sơ hữu cho ông AB đứng tên và sau khi chuyển quyền sơ hữu tài sản nêu trên thì con trai ông cho Công ty T mượn để làm một phần tài sản đảm bảo cho khoản vay của Công ty T. Theo ông được thông tin thì con trai ông không sử dụng một đồng nào và cho đên nay Công ty T cũng không có động thái nào trả khoản vay còn nợ cho Ngân hàng. Gia đình ông hiện nay gặp rất nhiều khó khăn về tài chính nên ông đề nghị miễn, giảm lai tiền vay hoặc phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 1105HCM042/HĐTD-HM/2011 ngày 27/5/2011 giữa Công ty T với Ngân hàng Thương mại SG – Chi nhánh SG, đồng thời cho ông được trả nợ gốc để gia đình ông lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu được trả nợ gốc là 1.382.400.000 đồng trong tổng số nợ gốc 2.880.000.000 đồng mà Ngân hàng đa giải ngân cho Công ty T.

4. Tại Bản án sơ thẩm đa tuyên:

4.1 Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn:

4.1.1 Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T phải trả cho Ngân hàng Thương mại SG tổng số tiền còn nợ tính đên ngày 20/02/2025 là 15.036.676.814 đồng (Mười lăm tỷ không trăm ba mươi sáu triệu sáu trăm bảy mươi sáu ngàn tám trăm mười bốn đồng), trong đó: Nợ gốc là 2.880.000.000 đồng, Nợ lai trong hạn là 237.354.800 đồng, Nợ lai do chậm trả lai trong hạn là 555.164.114 đồng và Nợ lai quá hạn là 11.364.157.900 đồng.

Kể từ ngày tiêp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đên khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lai của số tiền còn phải thi hành án theo mức lai suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

4.1.2 Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại SG thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thê chấp là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 2 (1), tờ bản đồ số 47 tại địa chỉ thôn Đ xa T, huyện L, Thành phố N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD005596, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 0462, số QĐ: 1118/QĐ-UB, MS: 5770533 do Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội cấp ngày 28/11/2005 và đa được cập nhật sang tên cho ông AB vào ngày 30/12/2010.

4.1.3 Trường hợp tài sản thê chấp không đủ để thực hiện nghia vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại SG thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T tiêp tục có nghia vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đên khi trả hêt nợ.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí, nghia vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 15/5/2025, Tòa án nhân dân Quận 10 nhận được đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghia vụ liên quan ông AB đề ngày 14/5/2025 kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm nêu trên, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng xem xét lại toàn bộ Bản án sơ thẩm do Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử. Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm, giải quyêt lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

5. Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghia vụ liên quan ông AB yêu cầu sửa bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu phát mai tài sản thê chấp của Ngân hàng SG.

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại SG do bà H đại diện theo ủy quyền không đồng ý với lý do kháng cáo của ông AB. Ông AB là người thê chấp tài sản để bảo đảm khoản nợ cho Công ty T, do đó trong trường hợp Công ty T không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mai tài sản thê chấp để thu hồi nợ. Nêu Ông AB đồng ý thanh toán ngay số tiền 4.800.000.000 đồng, bao gồm 2.880.000.000 đồng và 3.920.000.000 đồng tiền lai thì Ngân hàng SG đồng ý giải chấp tài sản thê chấp cho Ông AB, số tiền nợ còn lại thì Ngân hàng SG tiêp tục yêu cầu Công ty T có nghia vụ trả, trường hợp Ông AB không đồng ý với phương án trên thì đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giải quyêt theo quy định pháp luật, không chấp nhận kháng cáo của Ông AB, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

6. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày ý kiên về việc giải quyêt vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghia vụ theo đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 08/2025/KDTM-ST ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền nợ lai chậm trả lai là 555.138.236 đồng (Năm trăm năm mươi lăm triệu một trăm ba mươi tám nghìn hai trăm ba mươi sáu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kêt quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Bản án sơ thẩm số 08/2025/KDTM-ST của Toà án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4, Thành phố Hồ Chí Minh) được tuyên vào ngày 20/02/2025. Ngày 12/5/2025, người có quyền lợi, nghia vụ liên quan ông AB được tống đạt bản án trên. Ngày 15/5/2025, Tòa án nhân dân Quận 10 nhận được đơn kháng cáo của Ông AB với nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án giải quyêt theo đúng quy định của pháp luật. Ông AB vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo của Ông AB được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Như vậy, kháng cáo của Ông AB còn trong thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận về thời hạn.

Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyêt vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại SG khơi kiện yêu cầu bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ T có nghia vụ trả nợ theo thỏa thuận tín dụng đa ký kêt. Tranh chấp giữa Ngân hàng SG và Công ty T phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại, cụ thể là tranh chấp về hợp đồng tín dụng, ban đầu bị đơn Công ty T có trụ sơ tại Quận C, sau đa chuyển trụ sơ về Quận J (trước thời điểm thụ lý vụ án) nên Tòa án nhân dân Quận 10 (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4) thụ lý và giải quyêt theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Xét kháng cáo của ông AB: Tại phiên tòa phúc thẩm Ông AB thay đổi nội dung kháng cáo, yêu cầu Tòa án xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm và sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu về phát mai tài sản thê chấp của Ngân hàng SG:

Căn cứ vào trình bày của Ngân hàng SG và sự thừa nhận của Công ty T, có sơ sơ để xác định Công ty T đa ký kêt Hợp đồng tín dụng hạn mức số 1105HCM-CN042/HĐTD-HM/2011 ngày 27/5/2011 và các Phụ lục sửa đổi, bổ sung kèm theo để vay của Ngân hàng SG với hạn mức 10.000.000.000 đồng và đa được giải ngân số tiền 2.880.000.000 đồng. Do Công ty T vi phạm nghia vụ trả nợ nên Ngân hàng SG đa khơi kiện yêu cầu Công ty T trả toàn bộ số nợ gốc, tiền lai trong hạn, tiền lai chậm trả lai trong hạn, lai chậm trả của nợ gốc quá hạn.

Mặc dù nguyên đơn và bị đơn không kháng cáo đối với khoản nợ gốc và khoản nợ lai của bị đơn nhưng người có quyền lợi, nghia vụ liên quan ông AB kháng cáo với yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét các khoản nợ đối với hợp đồng tín dụng trên.

Tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số 1105HCM-CN042/HĐTD-HM/2011 ngày 27/5/2011 giữa Ngân hàng SG và Công ty T thì các bên có thỏa thuận về tiền lai chậm trả trên tiền lai trong hạn. Tuy nhiên, căn cứ vào Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về tiền lai phạt trong các hợp đồng tín dụng nêu các bên có thỏa thuận; căn cứ vào khoản 1 Điều 8 của Nghị quyêt 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lai, lai suất, phạt vi phạm có nội dung lai trên số nợ lai quá hạn chưa trả được xác định theo thỏa thuận của các bên và phải phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lai suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng.

Theo đó, tại Điều 8 Nghị quyêt số 01/2019/NQ-HĐTP để hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lai, lai suất, phạt vi phạm có hướng dẫn:

“1. Đối với hợp đồng tín dụng xác lập trước ngày 1/1/2017 thì lãi trong hợp đồng được xác định bao gồm: Một là, lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả được xác định theo lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất tương ứng với thời hạn vay chưa trả. Hai là, lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật về lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng;...”.

Đối chiêu với các quy định được viện dẫn trên thì tính đên trước ngày 01/01/2017 pháp luật chưa quy định về tiền phạt lai quá hạn, do đó số tiền tạm tính về tiền lai chậm trả lai của Ngân hàng SG và Công ty T tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số 1105HCM-CN042/HĐTD-HM/2011 ngày 27/5/2011

là không phù hợp với quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khơi kiện của Ngân hàng SG về nội dung tính tiền lai chậm trả lai của hợp đồng tín dụng trên đối với Công ty T là không có cơ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu về nợ lai do chậm trả lai trong hạn số tiền 555.164.114 đồng của Ngân hàng SG.

Xét hiệu lực của hợp đồng thê chấp tài sản bảo đảm:

Ông AB thừa nhận ngày 06/6/2011, ông có ký “Hợp đồng thê chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” với Ngân hàng Thương mại HN nay là Ngân hàng Thương mại SG – Chi nhánh SG được Văn phòng Công chứng Đống Đa Thành phố Hà Nội chứng nhận số 003758/2011/HĐTC quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD cùng ngày. Tài sản thê chấp là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 2 (1), tờ bản đồ số 47 tại địa chỉ thôn Đ xa T, huyện L, Thành phố N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD005596, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 0462, số QĐ: 1118/QĐ-UB, MS: 5770533 do Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội cấp ngày 28/11/2005, và đa được cập nhật sang tên cho ông AB vào ngày 30/12/2010.

Theo nội dung thỏa thuận tại Điều 1 của Hợp đồng thì Ông AB đồng ý thê chấp quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghia vụ của Công ty T đối với Ngân hàng SG theo Hợp đồng tín dụng số 1105HCM-CN042/HĐTD-HM/2011 ngày 27/5/2011 giữa Ngân hàng SG (bên cho vay) và Công ty T (bên vay), bao gồm nợ gốc và nợ lai.

Xét tài sản thê chấp trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của Ông AB và việc các bên ký kêt hợp đồng thê chấp trên cơ sơ tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xa hội nên phát sinh hiệu lực và ràng buộc các bên thực hiện.

Tài sản trên đa được Ngân hàng SG đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.

Ngân hàng SG yêu cầu phát mai tài sản thê chấp để thu hồi nợ trong trường hợp Công ty T không thực hiện việc trả nợ hoặc không đầy đủ là hợp lý. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng SG là đúng. Do đó kháng cáo của Ông AB về việc không chấp nhận yêu cầu phát mai tài sản của Ngân hàng SG là không có căn cứ.

Xét ý kiên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về nội dung là có cơ sơ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn phải chịu trên số tiền mà nguyên đơn được chấp nhận.

Nguyên đơn phải chịu trên số tiền không được chấp nhận.

Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm là 2.000.000 đồng, Ông AB không phải chịu do sửa bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYÊT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 6, 7, 9 và Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ Nghị quyêt 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lai, lai suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ vào Nghị quyêt số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghia vụ liên quan ông AB. Sửa một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 08/2025/KDTM-ST ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân Quận 10 (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4), Thành phố Hồ Chí Minh.

1.1 Chấp nhận một phần yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn:

1.1.1 Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T phải trả cho Ngân hàng Thương mại SG tổng số tiền nợ theo “Hợp đồng tín dụng” số 1105HCM-CN042/HĐTD-HM/2011 ngày 27/5/2011 giữa Ngân hàng SG và Công ty T tính đên ngày 20/02/2025 là 14.481.512.700 đồng (mười bốn triệu bốn trăm tám mươi mốt triệu năm trăm mười hai nghìn bảy trăm đồng), trong đó: Nợ gốc là 2.880.000.000 đồng (hai tỷ tám trăm tám mươi triệu đồng), nợ lai trong hạn là 237.354.800 đồng (hai trăm ba mươi bảy triệu ba trăm năm mươi bốn nghìn tám trăm đồng) và nợ lai quá hạn là 11.364.157.900 đồng (mười một tỷ ba trăm sáu mươi bốn triệu một trăm năm mươi bảy nghìn chín trăm đồng).

Kể từ ngày 21/02/2025 tiền lai tiêp tục phát sinh theo mức lai suất các bên đa thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đa ký kêt cho đên khi Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T trả xong các khoản nợ trên cho Ngân hàng Thương mại SG.

1.1.2 Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại SG thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền về thi hành án dân sự phát mai tài sản thê chấp là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 2 (1), tờ bản đồ số 47 tại địa chỉ thôn Đ xa T, huyện L, Thành phố N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD005596, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 0462, số QĐ: 1118/QĐ-UB, MS: 5770533 do Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội cấp ngày 28/11/2005 và đa được cập nhật sang tên cho ông AB vào ngày 30/12/2010.

1.1.3 Trường hợp số tiền sau khi phát mai tài sản thê chấp dùng để trả nợ cho Ngân hàng Thương mại SG mà còn thừa thì Ngân hàng Thương mại SG phải trả lại ngay cho ông AB, thủ tục giải chấp tài sản thê chấp được thực hiện theo quy định pháp luật.

1.1.4 Trường hợp tài sản thê chấp không đủ để thực hiện nghia vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại SG thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T tiêp tục có nghia vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đên khi trả hêt nợ.

1.2 Không chấp nhận một phần yêu cầu khơi kiện đối với nội dung về số tiền lai chậm trả lai trong hạn tạm tính đên ngày 20/02/2025 là 555.164.114 đồng (năm trăm năm mươi lăm triệu một trăm sáu mươi bốn nghìn một trăm mười bốn đồng).

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ T phải chịu 122.481.512 đồng (một trăm hai mươi hai triệu bốn trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm mười hai đồng).

Ngân hàng Thương mại SG phải chịu là 26.206.564 đồng (hai mươi sáu triệu hai trăm lẻ sáu nghìn năm trăm sáu mươi bốn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đa nộp là 47.869.715 đồng (bốn mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm mười lăm đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 05298 ngày 12/10/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3 (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1), Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Thương mại SG được trả lại số tiền chênh lệch là 21.663.151 đồng (hai mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn một trăm năm mươi mốt đồng).

3. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Ông AB không phải chịu án phí phúc thẩm, hoàn lại cho Ông AB tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0075792 ngày 23/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4), Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Các bên thực hiện quyền và nghia vụ thi hành án tại cơ quan có thẩm quyền về thi hành án dân sự.

5. Trường hợp bản án, quyêt định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chê thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ