vanban.org

Bản án 340/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 06/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Thị H.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2023/HS-ST ngày 27-02-2023 của Tòa án nhân dân thành phố B; Tội danh và hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị Lan - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 340/2023/HS-PT
Ngày 06-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Thế Phương;

Ông Trần Nam Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 193/2023/TLPT-HS ngày 16-6-2023 đối với bị cáo Võ Thị L và Nguyễn Thị H; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2023/HS-ST ngày 27-02-2023 của Tòa án nhân dân thành phố B.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Võ Thị L, sinh năm 1968 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ 9, khu phố Long Khánh 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 02/12; con ông Võ Văn Rê, sinh năm 1941 (còn sống) và bà Nguyễn Thị Thận, sinh năm 1947 (còn sống); bị cáo không có chồng, không có con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2022 đến ngày 31/3/2022 được thay đổi việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

2. Nguyễn Thị H sinh năm 1989 tại Đồng Nai; nơi thường trú: Tổ 5, Khu 8, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nơi ở hiện nay: Ấp Long Khánh 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 05/12; con ông Nguyễn Văn Kiếm, sinh năm 1944 (chết) và bà Trần Thị Phấn, sinh năm 1947 (còn sống); bị cáo sống chung như vợ chồng nhưng không đăng đăng ký kết hôn với ông Nguyễn Văn Lâm, sinh năm 1982 và có 01 con chung sinh năm 2005 với ông Lâm; Bị cáo sống chung như vợ chồng nhưng không đăng đăng ký kết hôn với ông Ngô Ngọc Lợi, sinh năm 1975 và có 01 con chung sinh ngày 26/9/2019 với ông Lợi; tiền án: 01 tiền án (ngày 09/9/2019, Nguyễn Thị H bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 20.000.000 đồng (hai mươi triệu) về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự); tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Võ Thị L là chủ sở hữu căn nhà tại địa chỉ 425/20/2T, Tổ 9, khu phố Long Khánh 2, phường T, thành phố B. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 22/3/2022, Hồ Văn Phước, Trần Kim Phước, Đỗ Thị Sĩ, Nguyễn Thị Bích Phượng đến nhà L chơi và cùng rủ nhau chơi đánh bạc bằng hình thức chơi bài Tứ sắc. Hồ Văn Phước mang theo 720.000 đồng (bảy trăm hai mươi nghìn), Trần Kim Phước mang theo 960.000 đồng (chín trăm sáu mươi), Đỗ Thị Sĩ mang theo 1.420.000 đồng (một triệu bốn trăm hai mươi nghìn), Nguyễn Thị Bích Phượng mang theo 1.190.000 đồng (một triệu một trăm chín mươi nghìn) dùng để đánh bạc.

Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày có Nguyễn Thị H, Trần Kim Phượng, Dương Thị Mười đến nhà L chơi nên L cùng H, Phượng, Mười cùng đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức chơi bài Tứ sắc. L sử dụng 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn), H mang theo số tiền 650.000 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn), Phượng mang theo số tiền 720.000 đồng (bảy trăm hai mươi nghìn), mười mang theo số tiền 1.020.000 đồng (một triệu không trăm hai mươi nghìn) dùng để đánh bạc.

Khi đánh bạc tại nhà của L, L thu 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng)/ 1 người chơi/1 lần chơi. L sử dụng tiền này để mua bài và nước cho người chơi đánh bạc.

Hình thức chơi như sau: Bộ bài tứ sắc gồm 112 lá, được chia cho 04 người, mỗi người 20 lá bài, riêng người chia bài có 21 lá bài, các lá bài còn lại úp để ở giữa chiếu bạc. Người đánh bài sẽ ghép quân bài trong 01 ván bài theo quy ước là Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt hoặc ghép cặp đôi, ba, cùng loại, cùng màu, còn lại là những quân bài lẻ. Người chia bài sẽ đánh trước và đánh theo thứ tự từ phải qua trái. Người nào đánh hết các quân bài lẻ trên tay trước nhất sẽ thắng (gọi là thắng trơn), 03 người còn lại, mỗi người phải trả cho người thắng trơn là 20.000 đồng (hai mươi nghìn). Nếu trong bài của người đánh hết quân bài lẻ trước nhất còn lại 04 quân bài giống nhau, cùng màu sẽ thắng (gọi là thắng quan), 03 người còn lại, mỗi người phải trả cho người thắng quan là 40.000 đồng (bốn mươi nghìn).

Cả nhóm Võ Thị L, Nguyễn Thị H, Trần Kim Phượng, Dương Thị Mười, Hồ Văn Phước, Trần Kim Phước, Đỗ Thị Sĩ, Nguyễn Thị Bích Phượng chơi đánh bạc đến 14 giờ cùng ngày thì bị Công an phường T, thành phố B phát hiện, bắt người phạm tội quả tang, thu giữ trên 02 chiếu bạc tổng số tiền là 8.340.000 đồng (tám triệu ba trăm bốn mươi nghìn) và 02 bộ bài Tứ sắc đã qua sử dụng. Cụ thể:

Chiếu bạc thứ nhất gồm Võ Thị L, Nguyễn Thị H, Trần Kim Phượng, Dương Thị Mười cùng chơi đánh bạc với nhau, thu giữ trên chiếu bạc 3.630.000 đồng (ba triệu sáu trăm ba mươi nghìn) và 01 bộ bài Tứ sắc.

Chiếu bạc thứ hai gồm Hồ Văn Phước, Trần Kim Phước, Đỗ Thị Sĩ, Nguyễn Thị Bích Phượng cùng chơi đánh bạc với nhau, thu giữ trên chiếu bạc 4.710.000 đồng (bốn triệu bảy trăm mười nghìn) và 01 bộ bài Tứ sắc.

Quá trình điều tra, Võ Thị L, Nguyễn Thị H, Trần Kim Phượng, Dương Thị Mười, Hồ Văn Phước, Trần Kim Phước, Đỗ Thị Sĩ, Nguyễn Thị Bích Phượng đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

2. Vật chứng thu giữ gồm:

- 02 bộ bài Tứ sắc đã sử dụng; 60.000 đồng (sáu mươi nghìn) tiền thu lợi bất chính của Võ Thị L; số tiền sử dụng vào việc đánh bạc của 02 chiếu bạc là 8.340.000 đồng (tám triệu ba trăm bốn mươi nghìn).

- Tài sản không liên quan đến việc phạm tội hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang tạm giữ 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn) của Trần Kim Phước.

3. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2023/HS-ST ngày 27-02-2023 của Tòa án nhân dân thành phố B, đã quyết định như sau:

Tuyên bố bị cáo Võ Thị L phạm tội “Gá bạc”, bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Đánh bạc”;

Áp dụng khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Võ Thị L 01 năm 02 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 10 tháng tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

4. Kháng cáo:

Ngày 07-3-2023, bị cáo Võ Thị L kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngày 02-3-2023, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

5. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Cấp sơ thẩm xác định các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Thị H phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu là có căn cứ, đúng người và đúng tội. Hình phạt của cấp sơ thẩm đối với các bị cáo là phù hợp và tương xứng với hành vi phạm tội. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Thị L về tội “Gá bạc”, theo khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

2.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

2.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tại cấp sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm xác định các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Nguyễn Thị H đang nuôi con nhỏ, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.

- Tại cấp phúc thẩm: Các bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới.

Về kháng cáo và hình phạt:

Bị cáo Võ Thị L sử dụng nhà ở của mình làm địa điểm tổ chức đánh bạc, có thu tiền xâu của mỗi người chơi, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 01 năm 02 tháng tù về tội “Gá bạc” là phù hợp và có căn cứ. Bị cáo Nguyễn Thị H có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, do chưa thi hành hình phạt chính và các quyết định khác của bản án; mặc dù, không phải là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng cho thấy bị cáo không lấy đó làm bài học lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc nên mức hình phạt 10 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ. Các bị cáo kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ mới, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có cơ sở chấp nhận.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Thị H.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2023/HS-ST ngày 27-02-2023 của Tòa án nhân dân thành phố B;

1. Tội danh và hình phạt:

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Võ Thị L 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Gá bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án; được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 23-3-2023 đến ngày 31-3-2023.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Thị H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Quyết định của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ