- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! Bản án số: 340/2017/HSPT Ngày: 10/7/2017 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Vũ Thanh Lâm"
Các"Thẩm"phán:
1. Ông Phan Thanh Nguyễn
2. Ông Nguyễn Tuấn Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phong Lan - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 10 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý 298/2017/HSPT ngày 25/05/2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự số 83/2017/HSST ngày 19/4/2017 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn!Văn!T; (L) Giới tính: nam; Sinh ngày 22/5/1971; Tại: Sài Gòn; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: bị cáo khai tại phiên tòa làm thợ sơn nước; Trình độ văn hoá: 7/12; Con ông Nguyễn Văn G (chết) và bà Trương Thị S (chết); Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; Nhân thân: ngày 15/5/1996 bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; Ngày 05/01/1999, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”; Ngày 06/3/2002, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 24/3/2005, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh 4 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày: 16/12/2016 (có mặt). ! !
NHẬN!THẤY:!
!
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh và Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền để trả nợ và tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Văn T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, sáng ngày 16/12/2016 T đi bộ trong các con hẻm tại đường Hoàng Hoa Thám, Phường 7, quận Bình Thạnh để xem nhà nào có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 6 giờ 30 phút cùng ngày, T đi bộ đến trước nhà số 23/40 Nơ Trang Long, Phường 7, quận Bình Thạnh thì thấy cửa nhà không khóa, khép hờ nên nên T mở cửa đi vào nhà thì nhìn thấy anh Trần Văn D đang nằm ngủ trên giường, bên cạnh anh D có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7. T đi lại lấy trộm chiếc điện thoại trên thì anh D thức dậy, phát hiện và tri hô, T liền chạy ra ngoài và ném lại chiếc điện thoại di động trên, anh D tiếp tục đuổi theo đến trước số 5/121 Nơ Trang Long, Phường 7, quận Bình Thạnh thì bắt được T giao cho công an xử lý.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2017/HSST ngày 19/4/2017 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm g,p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T: 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2016.
!Ngày 03/5/2017, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, mức hình phạt là thỏa đáng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. ! ! !
XÉT!THẤY:!
!
Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 16/12/2016 tại nhà số 23/40 Nơ Trang Long, Phường 7, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Văn T đã có hành vi đột nhập lấy trộm chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 bên cạnh anh Trần Văn D đang nằm ngủ trên giường thì bị anh D phát hiện bắt giữ.
Tại thông báo kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh số: 56/TB-TCKH ngày 20 tháng 01 năm 2017 của Phòng tài chính – kế hoạch UBND quận Bình Thạnh: “Một chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu bạc trị giá 4.500.000 đồng”.
Với hành vi đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự"là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tôi gây thiệt hại không lớn, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn thuộc thành phần lao động nghèo để áp dụng các điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm tù là có cơ sở. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới, đồng thời xét bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xét xử về các tội chiếm đoạt tài sản. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì"các"lẽ"trên,"
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.
!
QUYẾT!ĐỊNH:!
!
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T (L); Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T (L) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (L): 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2016.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận:!! ! !!!!!!! - TAND TC; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND quận Bình Thạnh; (1) - P. PC 53 - CATP; (1) - Bị cáo; (1) - Chi Cục THA quận Bình Thạnh; (1) - TAND quận Bình Thạnh; (2) - Công an quận Bình Thạnh; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: THS, hồ sơ, VT (21). (6) ! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TOẠ!PHIÊN!TOÀ! Vũ!Thanh!Lâm! |