vanban.org

Bản án 34/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I.Tuyên bố: Bị cáo Đặng Ngọc T đã phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 điêu 173; điểm s ,i khoản 1 và khoản 2 điều 51 ; điều 38 Điều 65 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Đặng Ngọc T 09 ( chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 ( mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 21/11/2025) Giao bị cáo Đặng Ngọc T cho UBND xã H, tỉnh Thanh Hoá giá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đặng Ngọc T đã phạm tội: “ Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? I.Tuyên bố: Bị cáo Đặng Ngọc T đã phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 –THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34 /2025/HS-ST
Ngày : 21/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Loan; Bà Phạm Thị Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Lan - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Thanh Hoá thamgia phiên toà: Ông Phan Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025 , tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2025 /TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo: Họ và tên: Đặng Ngọc T sinh ngày 08 tháng 4 năm 2003, tại: xã H, tỉnh Thanh Hóa; Căn cước công dân số 038203011595 do cục C về TTXH cấp ngày 17/ 7 /2024; Nơi cư trú: Thôn Đ, tỉnh Thanh Hóa;; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12 ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam ; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn Đ sinh năm 1976 và bà Vũ Thị T1 sinh năm 1974 ; chưa có vợ, con. Tiền án: không; tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/8/2025 đến ngày 25/8/2025 được áp dụng biện

pháp ngăn chặn: “ Cấm đí khỏi nơi cư trú”. Bị cáo T có mặt. -Người bị hại: Anh Đặng Đức L sinh năm 2003 Trú tại: Thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 16/8/2025, Đặng Ngọc T đi xe máy đến nhà ông Đặng Văn S, sinh năm 1972 trú tại thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa (là bác ruột T) để chơi. Khi đến nơi, T đi vào trong nhà thì thấy anh Đặng Đức L, sinh ngày 8/8/2003 vừa đi làm về, L vào phòng ngủ ngay sát vách phòng bếp và phòng khách thay đồ rồi lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax,titan, màu xanh cắm sạc pin. T nhìn thấy nên nảy sinh ý định trộmchiếc điện thoại bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lúc này lợi dụng cả nhà anh L xuống bếp ăn cơm, T lén lút đi lại phòng ngủ rút điện thoại Iphone 11 Promax của anh L bỏ vào túi quần, chào mọi người rồi ra lấy xe đi về. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, T đến quán Đ2 ở thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa do anh Đinh Văn Đ1, sinh năm 1995 làm chủ để bán, khi vào quán T nói bán chiếc điện thoại Iphone 11 Promax được bao nhiêu tiền thì anh Đ1 trả lời được 3.700.000 đồng nhưng máy bị khóa Icloud, phải mất chi phí 2.000.000 đồng để phá, T đồng ý, sau đó anh Đ1 chuyển 1.700.000 đồng vào số tài khoản 0826092356 Ngân hàng M mang tên Mai Văn D, sau khi nhận được tiền T sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Đến 16 giờ 30 phút, ngày 19/8/2025, biết hành vi của mình đã bị phát hiện và không thể trốn tránh T đến Công an xã H, tỉnh Thanh Hóa đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tang vật thu giữ: 01 điện thoại di động Iphone 11 ProMax, màu xanh titan, đã

qua sử dụng (do anh Đ1 giao nộp); 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen bị lỗi màn hình và bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng (do T giao nộp).

* Kết quả định giá tài sản:

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 236/KL-HĐĐGngày 22/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong TTHS – UBND tỉnh T kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 11 ProMax, màu xanh titan, đã qua sử dụng, có giá trị là 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

* Kết quả giám định dữ liệu điện tử:

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T thu giữ 02 đoạn video từ camera của gia đình anh Đặng Văn L1 ghi lại diễn biến vụ trộm cắp tài sản.

Tại bản kết luận giám định số 3339/KL-KTHS ngày 05 tháng 9 năm 2025 của Phòng K, Công an tỉnh T kết luận: Không tìm thấy dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 tệp video của 01 USB gửi giám định; trích xuất 05 ảnh từ tệp video gửi giám định.

* Xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 ProMax, màu xanh titan,đã qua sử dụng thuộc sở hữu của anh Đặng Đức L. Ngày 30/8/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh L quản lý, sử dụng là có căn cứ.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen bị lỗi màn hình và bị vỡ

màn hình, đã qua sử dụng thuộc sở hữu của anh Mai Văn D, sinh năm 2009, trú tại thôn Đ, xã T, tỉnh Thanh Hóa.Ngày 31/8/2025,Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh D quản lý, sử dụng là có căn cứ.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Đặng Đức L không có yêu cầu đề nghị gì về việc bồi thường dân sự.

- Quá trình điều tra bị cáo đã tác động đến gia đình. Sau đó, ông Đặng Văn Đ (bố ruột bị can T) đã bồi thường cho anh Đinh Văn Đại S1 tiền 1.700.000đ (một triệu bảy trăm nghìn đồng), anh Đ1 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu gì thêm. Tại bản cáo trạng số 06/ CT-VKSKV6 ngày 16/ 10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Thanh Hoá đã truy tố Đặng Ngọc T về tội “ Trộm cắp tài sản ” theo khoản 1 điều 173 của BLHS. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 tỉnh Thanh hoá đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): tuyên bố bị cáo Đặng Ngọc T phạm tội: “ Trộm cắp tài sản” . Về hình phạt: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 điêu 173; điểm s ,i khoản 1 và khoản 2 điều 51 ; điều 38 Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T từ 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đồng thời, đề nghị HĐXX tuyên buộc bị cáo nộp tiền án phí HSST là 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T ; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Đặng Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạmtội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.Căn cứ lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/8/2025 Đặng Ngọc T đã lợi dụng sự sơ hở của gia đình anh Đặng Đức L lén lút vào phòng ngủ của lấy trộm của anh L 01 điện thoại di động Iphone 11Promax đang cắm sạc phin trong phòng ngủ mục đích đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Theo kết quả định giá chiếc điện thoại của anh Đặng Đức L có giá trị là: 6.250.000 đồng. Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 của BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Thanh Hoá truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạmtội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân . Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo bằng một mức án nghiêm minh nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo và nhằmđấu tranh phòng chống tội phạm nói chung trên địa bàn dân cư. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Xét thấy, quá trình điều tra và tai phiên toà bị cáo khai báo thật thà, thành khẩn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội đã đến cơ quan công an đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo các điểm i và s khoản 1; khoản 2 điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Xét về nhân thân: Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự lần đầu phạmtội nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp

dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm Dân sự: Chiếc điện thoại di động Iphone 11 ProMax của anh Đặng Đức L đã được cơ quan điều tra thu hồi trả lại cho người bị hại. Anh Đặng Đức L không có yêu cầu gì thêm nên không xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I.Tuyên bố: Bị cáo Đặng Ngọc T đã phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 điêu 173; điểm s ,i khoản 1 và khoản 2 điều 51 ; điều 38 Điều 65 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Đặng Ngọc T 09 ( chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 ( mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 21/11/2025)

Giao bị cáo Đặng Ngọc T cho UBND xã H, tỉnh Thanh Hoá giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạmnghĩa vụ 02

lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo

quy định tại điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

II.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a

khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Đặng Ngọc T phải nộp án phí HSST là: 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 21 / 11 /2025). Người bị hại anh Đặng Đức L vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Toà án niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ