vanban.org

Bản án 34/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2023. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 89; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Thịnh bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST
Ngày 25 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;

2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Khương Văn Út - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 01 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án A Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần Phòng hỏi cung Nhà tạm giữ Công an thành phố D, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 468/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu T, sinh năm 1983 tại tỉnh Đ; thường trú: Số C, tổ E, khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đ; chỗ ở: Số A, đường A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh B; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phát Đ, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Võ Thị N, sinh năm 1957; có vợ tên là Nguyễn Kim L, sinh năm 1985 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2023 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Phan Thị C, sinh năm 1973; thường trú: Ấp T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; chỗ ở: Số A, đường A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh B, có mặt.

2. Ông Phan Văn H, sinh năm 1983; thường trú: Xóm I, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; chỗ ở: 27 Quốc lộ B, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến: Anh Nguyễn Thành D, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 15/9/2023 Nguyễn Hữu T thuê xe ôm đi từ phòng trọ tại số A, đường A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh B đến khu vực ngã tư E, thuộc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh B gặp một người đàn ông mặc áo G (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma tuý đá với giá 300.000 đồng. Sau khi mua ma túy T mang về phòng trọ cất giấu để sử dụng dần. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 18/9/2023, Công an phường D, thành phố D, tỉnh B kiểm tra hành chính nhà trọ số A, đường A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh B thì phát hiện góc bên phải trên gác lửng tại phòng trọ số 4 do Nguyễn Hữu T thuê ở có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa. T khai nhận bản thân có sử dụng ma tuý đá và giao nộp 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú, niêm phong tang vật và đưa T về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa và 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,1655 gam.

Kết luận giám định số 540/KL-KTHS(MT) ngày 25/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng 0,1655 gam.

Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số 540/KL-KTHS(MT) ngày 25/9/2023 của Phòng K Công An tỉnh B.

Bản Cáo trạng số 28/CT-VKS-DA ngày 27 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh tụng đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- 01 bì thư được niêm phong chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine có trọng lượng 0,1239 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định là tang vật của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá (gồm 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa) là công cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Hữu T hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

- Bị cáo Nguyễn Hữu T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì khác.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phan Thị C có mặt tại phiên tòa không trình bày ý kiến tranh luận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phan Văn H vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến tranh luận.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phan Văn H vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Xét, sự vắng mặt của ông H không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng kiến; biên bản kiểm tra hành chính ngày 18/9/2023; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 18/9/2023; Kết luận giám định số 540/KL-KTHS(MT) ngày 25/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B và những chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 18/9/2023, tại phòng số 4 của nhà trọ tọa lạc địa chỉ số A, đường A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh B, Công an phường D, thành phố D, tỉnh B tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện Nguyễn Hữu T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1655 gam, loại Methamphetamine.

Như vậy, hành vi tàng trữ ma túy có khối lượng 0,1655 gam, loại Methamphetamine của bị cáo Nguyễn Hữu T với mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, Cáo trạng số 28/CT-VKS-DA ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh B truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình tố tụng bị cáo Nguyễn Hữu T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo đã tự nguyện giao nộp ma túy khi lực lượng công an tiến hành kiểm tra hành chính tại phòng trọ số 4 của Nguyễn Hữu T là thuộc trường hợp người phạm tội tự thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý đồng thời bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- 01 bì thư được niêm phong chứa ma túy đá (Methamphetamine) còn lại sau giám định có khối lượng 0,1239 gam là vật cấm lưu thông nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá (gồm 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa) là công cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Hữu T hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh B đưa ra tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo T cũng như việc xử lý vật chứng là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.

Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS là không phù hợp nên không được chấp nhận. Bởi khi lực lượng công an tiến hành kiểm tra hành chính tại phòng trọ số 4 của bị cáo Nguyễn Hữu T đã tự nguyện giao nộp ma túy khi chưa bị phát hiện là thuộc trường hợp người phạm tội tự thú theo điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS không phải tình tiết đầu thú theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS như quan điểm đại diện Viện kiểm sát. Còn các tình tiết giảm nhẹ còn lại quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2023.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 89; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong chứa ma túy đá (Methamphetamine) còn lại sau giám định có khối lượng 0,1239 gam và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá (gồm ống hút nhựa, 01 (một) vỏ chai nhựa, 01 (một) nỏ thủy tinh).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/12/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố D).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ