vanban.org

Bản án 34/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 24/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc QT, phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

1/ Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Bùi Ngọc QT 01(một) năm 03(ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02(hai) năm 06(sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lạm dung tin nhiệm - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc QT, phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; luật tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
______________
Bản án số: 34/2023/HSST
Ngày: 24/03/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LK TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Chu Hạ Uyên.

2/ Bà Nguyễn Thúy Phượng.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Công Nam, Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố LK, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện VKSND thành phố LK tham gia phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Như Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 24/03/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố LK, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2023/HSST ngày 22/02/2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/HSST- QĐ ngày 10/3/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Ngọc QT; sinh năm: 1999, nơi sinh: tại Đồng Nai; nơi cư trú: Số 45, Phan Bội Châu, khu phố 4, phường Xuân An, thành phố LK, Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không, quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Ngọc Hùng; Sinh năm 1977 (còn sống) và bà Vũ Thị Minh Trang; Sinh năm: 1977 (còn sống) Vợ, con chưa có.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

Chị Nguyễn Thùy Ánh Duyên, sinh năm 1997, địa chỉ: khu phố Suối Tre, phường Suối Tre, thành phố LK. (vắng mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Kim, sinh năm 1955. Địa chỉ: Số 45, Phan Bội Châu, khu phố 4, phường Xuân An, thành phố LK, Đồng Nai (có mặt)

* Người làm chứng:

- 1 -

1. Ông Nguyễn Thanh Thủy, sinh năm 1977. địa chỉ: khu phố Suối Tre, phường Suối Tre, thành phố LK. (có mặt)

2. Chị Bùi Thị Phường Trâm, sinh năm 1996, địa chỉ: khu phố Núi Đỏ, phường Bàu Sen, thành phố LK. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi ngọc QT và chị Nguyễn Thùy Ánh Duyên, sinh năm 1997, ngụ tại khu phố Suối Tre, phường Suối Tre, thành phố LK có quan hệ tình cảm yêu đương với nhau từ tháng 03/2022.

Sau khi bị cáo T bà bị hại chị Duyên đi chơi Đà Lạt từ ngày 01/10/2022, về đến thành phố LK khoảng 21 giờ ngày 15/10/2022, T và Duyên vào khách sạn Garden 2, tại đường Nguyễn Trãi, phường Xuân Hòa, thành phố LK thuê phòng để nghỉ. Đến 14 giờ ngày 17/10/2022, cả 2 xuống trả phòng để về thì T không còn tiền, nói chị Duyên để T lấy xe đi rút tiền về thanh toán tiền phòng, chị Duyên đồng ý. T điều khiển xe môtô Honda Click màu trắng đỏ đen, biển số 60B - 464.57 của chị Duyên đi, còn chị Duyên đứng ở sảnh khách sạn chờ. Sau khi rút tiền xong T gặp một người quen tên Lâm( không rõ họ tên, địa chỉ) nên nhờ Lâm mang tiền đến khách sạn đưa cho chị Duyên trả tiền khách sạn (vì lúc này có ông Nguyễn Thanh Thủy, sinh năm 1977 là cha ruột chị Duyên đến tìm tại khách sạn), còn T tiếp tục điều khiển xe của chị Duyên đi chơi ở thành phố LK. Chị Duyên chờ T lâu quá không thấy quay lại nên ông Nguyễn Thanh Thủy chở về.

Đến ngày hôm sau, thấy có giấy tờ sẵn trong cốp xe nên T đã nảy sinh ý định cầm xe của chị Duyên để trả nợ, T mang xe chị Duyên đi cầm cho một người bạn tên Minh (không rõ nhân thân lai lịch) được 20.000.000đồng, T dùng trả nợ tiền đi chơi trước đó và tiêu xài cá nhân hết.

Sau đó, Chị Duyên nhiều lần nhắn tin, gọi điện hỏi xe thì T nói mượn vài ngày sẽ trả, đến ngày 20/10/2022, T nói đã cầm xe chị Duyên để trả nợ tiền hôm đi chơi Đà Lạt, hứa vài ngày sẽ chuộc xe. Ngày 25/10/2022 T vẫn không chuộc xe trả cho chị Duyên nên chị Duyên đã làm đơn tố cáo T đến phường Xuân Hòa và đến ngày 31/10 T trả xe cho chị Duyên. Tại Cơ quan điều tra T thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 85/HDDGTTTHS ngày 02/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố LK, kết luận một xe

- 2 -

môtô hiệu Honda Click, màu trắng đỏ đen biển số 60B - 464.57, đã qua sử dụng, (thời điểm ngày 17/10/2022), có giá trị 39.333.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: Tạm giữ 01 xe môtô hiệu Honda Click, màu trắng đỏ đen biển số 60B -464.57, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố LK trả lại cho bị hại chị Duyên là chủ sở hữu hợp pháp.

Về bồi thường dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thùy Ánh Duyên đã nhận lại tài sản, tài sản không bị hư hỏng nên không yêu cầu bồi thường.

- Bà Nguyễn Thị Kim, bà nội của T là người bỏ tiền thay chuộc lại xe T đã cầm cố, bà Kim không yêu cầu T bồi thường nên không đặt ra giải quyết.

Tại bản cáo trạng số: 34/CT-VKS.LK ngày 15/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố LK đã truy tố bị cáo Bùi Ngọc QT về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thu hồi tài sản khắc phục hậu qủa thiệt hại là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đề xuất xử phạt bị cáo từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố là đúng không oan sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người bị hại có đơn rút đơn tố cáo và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố LK, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố LK; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa bị hại, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng

- 3 -

mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

.Về tội danh và hình phạt:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ ngày 17/10/2022 tại khách sạn Garden, khu phố 2, phường Xuân Hòa, thành phố LK, lợi dụng mối quan hệ tình cảm, Bùi Ngọc QT đã mượn xe môtô hiệu Honda Click, màu trắng đỏ đen, biển số 60B - 464.57, có giá trị 39.333.000 đồng, của chị Nguyễn Thùy Ánh Duyên nói đi rút tiền, sau đó không quay lại mà đến ngày hôm sau T đem xe đi cầm cố lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân.

Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó…;

Hành vi mượn tài sản của chị Duyên, sau đó lấy tài sản mượn được cầm cố lấy tiền tiêu xài đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố LK truy tố bị cáo là có căn cứ.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Chỉ vì khó khăn về kinh tế, nợ nần do mượn tiền để cùng bị hại là chị Duyên người yêu của bị cáo đi chơi Đà Lạt về hết tiền, bị cáo nhất thời thiếu suy nghĩ hậu quả do hành vi của mình gây ra nên mượn xe của người yêu là chị Duyên đi rút tiền tại ngân hàng trên đường Hùng Vương và sau đó sử dụng xe của chị Duyên đi chơi đến ngày hôm sau thì T mới nãy sinh ý định cầm xe được 20.000.000đ lấy tiền để trả nợ tiền đi chơi trước đó. Chị Duyên yêu cầu T trả xe nhưng T hứa ít hôm chuộc xe để trả nhưng đến hẹn bị cáo không có đủ tiền để chuộc xe trả cho chị Duyên, nên trình báo công an thì bị cáo đi chuộc xe trả lại cho chị Duyên. Từ đó, dẫn đến bị cáo phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nên cần đưa ra xét xử và áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung là cần thiết.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.

- 4 -

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa, bị cáo T thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự đã chấp hành tốt các quy định tại địa phương; bị cáo đã tham gia nghĩa vụ quân sự và mới xuất ngũ; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã thu hồi và đã trả lại cho người bị hại và không bị thiệt hại gì; người bị hại đã bãi nại và có đơn rút đơn tố cáo và yêu cầu không khởi tố vụ án là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khỏan 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015; bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Từ những tình tiết giảm nhẹ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt đã chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự; phù hợp với các quy định về hưởng án treo theo Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2015 và sửa đổi bổ sung Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho gia đình và ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là đủ nghiêm, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

.Về trách nhiệm dân sự: Đối với tang vật trong vụ án, quá trình điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

.Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

. Bị cáo chưa có công ăn việc làm, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần, đối với đề xuất xử phạt bị cáo mức án tù giam là không cần thiệt; Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giãm nhẹ; không trái với quy định về điều kiện được hưởng án treo như đã phân tích; có thể giao bị cáo cho gia đình, chính quyền địa phương cải tạo, giáo dục được nên không cần thiết cách lý bị cáo ra khỏi đời sống xã hội; Việc xử phạt tù giam không phải là biện pháp cuối cùng đối với bị cáo và không phù hợp với nguyên tắc xử lý trong chính sách pháp luật hình sự theo điều 3 của Bộ luật hình sự nên không chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 260; 292; 293; 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- 5 -

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc QT, phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

1/ Về hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Bùi Ngọc QT 01(một) năm 03(ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02(hai) năm 06(sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân phường Xuân An, thành phố LK phối họp với gia đình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2/ Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ