vanban.org

Bản án 34/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 19/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 c a Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố b cáo Nguy n Thế Anh H phạm tội “T chức sử dụng trái phép chất ma túy”. ử phạt b cáo Nguy n Thế Anh H 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29/6/2021. [2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYÊN THẾ ANH H BỊ XÉT XỬ VỆ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 c a Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TN
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2022/HS-ST
Ngày: 19-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đ ng Th Ng c Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. ng Tr n Tấn hát;

2. ng Lê Tấn hát.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Th Th y, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN tham gia phiên toà: Ông Lê uân H ng Vinh, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2022, theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 31/2022/QĐ ST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2022 đối với b cáo:

N

n Th Anh H, sinh ngày 03/01/2003 tại tỉnh TN; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Khu phố , th trấn BC, huyện BC, tỉnh TN; Nghề nghiệp: Không; Trình độ h c vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; Con ông Nguy n Thế h, sinh năm 1968 và bà Hà Th N, sinh năm 1973; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; B cáo b tạm giữ ngày 29/6/2021 chuyển tạm giam ngày 08/7/2021 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố TN; B cáo có m t tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt N sau:

Khoảng 14 giờ ngày 28/6/2021, sau khi đi ăn uống cùng với Phan Thành L, sinh năm 1986, ngụ khu phố HB, phường HB, thành phố TN, tỉnh TN; Nguy n Minh V, sinh năm 1984, ngụ khu phố LT, phường TB, th xã TB, tỉnh TN; Nguy n Th H, sinh năm 1991, ngụ Ấp PT, xã LA, huyện TN, tỉnh ĐT; Nguy n Th Quỳnh N, sinh năm 1993, ngụ Khu phố HT, phường HN, thành phố TN, tỉnh TN và một số người không biết tên, đ a chỉ ở khu vực MTL thuộc xã TT, thành phố TN, tỉnh TN thì Nguy n Thế Anh H đi về trước. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, H nhận điện thoại c a H1 nói đến khách sạn S thuộc khu phố A, hường B, thành phố TN, tỉnh TN, thuê phòng cho cả nhóm nghỉ ngơi, H đ ng ý và đến khách sạn S, thuê phòng 709 r i điện thoại báo cho H1 biết, khoảng 15 phút sau H1, N, L và V cùng đến phòng 709. Lúc này, do có nhu c u sử dụng ma túy nên H liên lạc với người tên B (không rõ h tên, đ a chỉ) qua mạng xã hội facebook hỏi mua 3.000.000 đ ng ma túy “Khay” (Ketamine) và 900.000 đ ng thuốc lắc (MDMA), B đ ng ý và hẹn giao ma túy trước khách sạn S. Khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, B đến giao cho H 01 b ch ma túy Ketamine và 03 viên MDMA, H trả cho B 3.000.000 đ ng, xin nợ 900.000 đ ng. Mua được ma túy, H mang tất cả ma túy để trên bàn trong phòng 709 và nói “ai có nhu cầu sử dụng thì lấy ma túy sử dụng” đ ng thời lấy ra ½ viên thuốc lắc sử dụng r i đi ng . Thấy có ma túy nên L lấy một ít ma túy loại Ketamine sử dụng, H1, V mỗi người lấy ½ viên ma túy loại MDMA sử dụng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Nguy n Th N, sinh năm 2004, ngụ khu phố Y, th trấn TB, huyện TB, tỉnh TN cũng đến phòng 709 chơi Nng không có sử dụng ma túy. Vào lúc 17 giờ 10 phút cùng ngày, tại phòng số 709, khách sạn S, Công an phường B, thành phố TN kiểm tra và bắt quả tang, thu giữ trên bàn trong phòng 01 b ch nylon chứa chất rắn màu trắng và 01 b ch nylon chứa 02 viên nén màu h ng (trong đó có 01 viên bằng nửa viên còn lại).

Tại kết luận giám đ nh số 932/KL-KTHS ngày 02/7/2021 c a hòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 01 b ch nylon (ký hiệu M1) gửi đến giám đ nh là chất ma túy; loại Ketamine; Khối lượng 2,3444 gam; Mẫu 02 viên nén màu h ng (trong đó có 01 viên bằng một nửa viên còn lại) (ký hiệu M2) gửi đến giám đ nh là chất ma túy; Loại MDMA; Khối lượng 0,6030 gam.

Quá trình điều tra Nguy n Thế Anh H thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN, tỉnh TN 01 Bì thư niêm phong ghi vụ số 932/KL-KTHS có dấu đỏ hình tròn c a hòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN và chữ ký c a giám đ nh viên Nguy n Văn Nguyện, trợ lý Nguy n Th Thùy Linh, bên trong có 01 b ch nylon chứa chất rắn màu trắng (ký hiệu M1) là Ketamine có khối lượng 2,2908 gam còn lại sau giám đ nh và 01 b ch nylon chứa viên nén màu h ng (ký hiệu M2) là MDMA có khối lượng 0,3164 gam còn lại sau giám đ nh; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imel 353894103591789.

Qua xác minh b cáo không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 101/2021/HS-ST ngày 23/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN đã quyết định:

Tuyên bố b cáo Nguy n Thế Anh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.

ử phạt b cáo Nguy n Thế Anh H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29/6/2021.

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm Vi n ki m sát nhân dân tỉnh TN kháng nghị theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 0 /QĐ-VKS ngày 21/10/2021.

* Tại bản án hình sự phúc thẩm số 192/2021/HS-PT ngày 23/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh TN đã quyết định:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a, b khoản 1 Điều 358 c a Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng ngh phúc thẩm số 04/QĐ-VKS ngày 21/10/2021 c a Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TN.

H y toàn bộ Bản án Hình sự sơ thẩm số 101/2021/HS-ST ngày 23/9/2021 c a Tòa án nhân dân thành phố TN để điều tra, xét xử lại theo th tục chung

Chuyển toàn bộ h sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN để điều tra, xét xử lại theo th tục chung.

Ngoài ra, bản án phúc thẩm còn tuyên về án phí và các vấn đề khác.

* Bản cáo trạng số 20/CT-VKSTPTN ngày 28/02/2022 của Vi n ki m sát nhân dân thành phố TN đã truy tố bị cáo: Nguy n Thế Anh H về tội “T chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy đ nh tại điểm b khoản 2 Điều 255 c a Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại di n Vi n ki m sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN trình bày bản luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định N cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố b cáo Nguy n Thế Anh H phạm tội “T chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 c a Bộ luật Hình sự: ử phạt b cáo Nguy n Thế Anh H từ 07 đến 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29/6/2021.

Về xử lý vật chứng: Đề ngh Hội đ ng xét xử t ch thu tiêu h y 01 Bì thư niêm phong ghi vụ số 932/KL-KTHS có dấu đỏ hình tròn c a hòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN và chữ ký c a giám đ nh viên Nguy n Văn Nguyện, trợ lý Nguy n Th Thùy Linh, bên trong có 01 b ch nylon chứa chất rắn màu trắng (ký hiệu M1) là Ketamine có khối lượng 2,2908 gam còn lại sau giám đ nh và 01 b ch nylon chứa viên nén màu h ng (ký hiệu M2) là MDMA có khối lượng 0,3164 gam còn lại sau giám đ nh; t ch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imel 353894103591789.

* B cáo H không tự bào chữa, không tranh luận.

* Lời nói sau cùng c a b cáo: B cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi c a b cáo nên xin Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho b cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận đ nh như sau:

Về hành vi, quyết đ nh tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an thành phố TN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy đ nh c a Bộ luật Tố tụng hình sự. B cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết đ nh c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi c a b cáo: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay b cáo Nguy n Thế Anh H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình. Lời khai nhận c a b cáo phù hợp với lời khai c a người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong h sơ vụ án, có cơ sở xác đ nh:

Ngày 28/6/2021, b cáo Nguy n Thế Anh H có hành vi thuê phòng số 709, khách sạn S thuộc Khu phố A, hường B, thành phố TN, tỉnh TN và cung cấp chất ma túy, t chức cho 03 người sử dụng trái phép chất ma túy thì b bắt quả tang.

Do đó, có đ căn cứ kết luận b cáo Nguy n Thế Anh H phạm tội “T chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy đ nh tại điểm b khoản 2 Điều 255 c a Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN truy tố b cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật nên c n chấp nhận.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm tr ng. Hành vi c a Nguy n Thế Anh H là nguy hiểm cho xã hội, b cáo là người có đ năng lực ch u trách nhiệm hình sự. Hành vi c a b cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền c a Nhà nước đối với các chất ma túy nên c n xét xử mức án tương xứng với hành vi phạm tội c a b cáo.

Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: B cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: B cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Do đó, c n cho b cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm c a b cáo, các tình tiết tăng n ng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự c a b cáo, Hội đ ng xét xử xét thấy c n áp dụng khung hình phạt tù có thời hạn, cách ly b cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo b cáo thành công dân tốt và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt b sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa đều cho thấy b cáo không có tài sản nên Hội đ ng xét xử quyết đ nh không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với b cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Đối với 01 Bì thư niêm phong ghi vụ số 932/KL-KTHS có dấu đỏ hình tròn c a hòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN và chữ ký c a giám đ nh viên Nguy n Văn Nguyện, trợ lý Nguy n Th Thùy Linh, bên trong có 01 b ch nylon chứa chất rắn màu trắng (ký hiệu M1) là Ketamine có khối lượng 2,2908 gam; có 01 b ch nylon chứa viên nén màu h ng (ký hiệu M2) là MDMA có khối lượng 0,3164 gam trả lại sau giám đ nh là các chất ma túy Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên c n t ch thu tiêu h y.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imel 353894103591789 b cáo sử dụng vào việc liên hệ mua ma túy nên c n t ch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với người tên “B” bán trái phép chất ma túy cho Nguy n Thế Anh H do không rõ h tên đ a chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN, tỉnh TN chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Phan Thành L, Nguy n Th H, Nguy n Minh V, Nguy n Th Quỳnh N, Nguy n Th N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường 3, thành phố TN ra quyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính theo quy đ nh là phù hợp.

Về án phí: B cáo phải ch u án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 c a Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố b cáo Nguy n Thế Anh H phạm tội “T chức sử dụng trái phép chất ma túy”. ử phạt b cáo Nguy n Thế Anh H 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29/6/2021.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

T ch thu tiêu h y 01 Bì thư niêm phong ghi vụ số 932/KL-KTHS có dấu đỏ hình tròn c a hòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN và chữ ký c a giám đ nh viên Nguy n Văn Nguyện, trợ lý Nguy n Th Thùy Linh, bên trong có 01 b ch nylon chứa chất rắn màu trắng (ký hiệu M1) là Ketamine có khối lượng 2,2908 gam còn lại sau giám đ nh và 01 b ch nylon chứa viên nén màu h ng (ký hiệu M2) là MDMA có khối lượng 0,3164 gam còn lại sau giám đ nh.

T ch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imel 353894103591789.

Tình trạng, đ c điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2021 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN, tỉnh TN.

[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 c a Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 c a Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016:

B cáo Nguy n Thế Anh H phải ch u 200.000 đ ng (Hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: B cáo có quyền kháng cáo đối với bản án c a Tòa án cấp sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

[5] Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ