vanban.org

Bản án 34/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 22/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 1.100.000.000 (Một tỷ một trăm triệu) đồng, kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật. Về biện pháp tư pháp áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN THANH T phạm tôi buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2019/HS-ST
Ngày 22/5/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Danh Chung

2/ Ông Đặng Hữu Tâm

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2019, về tội “Buôn bán hàng cấm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành T; sinh năm 1972; Nơi cư trú: Số 14/8 NVC, KP 3, phường VL, thành phố RG, tỉnh KG; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Thiên Chúa; Con ông Nguyễn Văn V (chết) và bà Lê Thị Y (chết); Vợ tên Trần Thị M; sinh năm 1975 và có 01 người con sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không.

Tuy nhiên, vào ngày 19/01/2015 bị cáo bị Phòng cảnh sát đường thủy Công an Kiên Giang xử phạt 20.000.000 đồng, về hành vi “Vận chuyển hàng cấm”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/12/2018 cho đến ngày 24/01/2019 được cho tại ngoại để điều tra, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ, ngày 03 tháng 12 năm 2018 Nguyễn Thành T điều khiển Ca nô màu trắng – xanh của T cùng với đối tượng tên Đ (chưa xác định được họ tên địa chỉ cụ thể) là người làm thê cho T, đi từ bến tàu Rạch Mẻo thuộc thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đến thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đoạn sông Vĩnh tế thuộc biên giới Việt Nam – Campuchia để tìm mua thuốc lá điếu nhập lậu loại Hero, Jet và Scott mang về tỉnh Cà Mau bán lại kiếm lời. Đến khoảng 05 giờ 30 cùng ngày, T và Đ đến biên giới, T cho Cano đậu bên phía bờ của Việt Nam. Lúc này có một người đàn ông (chưa xác định họ tên địa chỉ cụ thể) chạy võ lãi đến hỏi T có mua thuốc nhập lậu không thì T đồng ý mua. T mua của người này 12.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO với số tiền 168.750.000 đồng (mỗi 01 bao có giá 13.500 đồng); 12.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SCOTT với số tiền 147.500.000 đồng (mỗi 01 bao có giá 11.800 đồng); 2.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET với số tiền 41.250.000 đồng (mỗi 01 bao có giá 16.500 đồng). Tổng số tiền T mua 27.500 bao thuốc lá lậu là 357.500.000 đồng. Sau khi mua được thuốc lá T điều khiển Ca nô về Cà Mau, khi đến đoạn sông thuộc xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông đường thủy Công an tỉnh Kiên Giang phát hiện kiểm tra nhưng T điều khiển Ca nô bỏ chạy. Lúc này lực lượng Công an đuổi theo đến đoạn sông Cái Sắn thuộc ấp Phước Ninh, xã Mong Thọ B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang thì bắt được T cùng tang vật là chiếc ca nô gắn máy Yamaha 200CV và 27.500 bao thuốc lá, còn Đ trên đường T điều khiển canô bỏ chạy đã nhảy xuống sông tẩu thoát.

Ngoài ra, T còn tự khai nhận vào khoảng tháng 11 năm 2018, bằng cách thức và thủ đoạn trên T đã mua 1.400 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO đem đến khu vực tỉnh Cà Mau bán lại cho dân đi ngư phủ được số tiền 19.320.000 đồng.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Thành T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ, hướng xử lý vật chứng gồm:

Vật chứng của vụ án:

- 12.500 bao nhãn hiệu HERO.

- 12.500 bao nhãn hiệu SCOTT.

- 2.500 bao nhãn hiệu JET.

- 01 Ca nô màu trắng - xanh dài 7,2 mét (không số hiệu và tên gọi).

- 01 Máy nhãn hiệu YAMAHA 200 CV màu đen.

Đối với số thuốc lá nhập lậu đề nghị tịch thu tiêu hủy, còn lại các vật chứng khác là tài sản của T sử dụng vào việc phạm tội đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với đối tượng tên Đ không rõ nhân thân lai lịch đã cùng T thuê đi cùng để vẫn chuyển thuốc lá lậu. Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra do không biết họ tên địa chỉ cụ thể. Vì vậy hiện vẫn chưa thể làm việc được, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.

Đối với người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch là người bán thuốc lá cho T, Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra do không biết họ tên địa chỉ cụ thể. Vì vậy hiện vẫn chưa thể làm việc được, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.

Đối với hành vi T tự khai nhận vào khoảng tháng 11 năm 2018, T đã mua 1.400 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO đem đến khu vực tỉnh Cà Mau bán lại cho dân đi ngư phủ được số tiền 19.320.000 đồng. Do chỉ có duy nhất lời khai nhận tội của T nên chưa đủ căn cứ để xử lý hành vi trên của T. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ sử lý sau.

Tại cáo trạng số: 28/CT- VKS-CT ngày 08/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội: “Buôn bán hàng cấm” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T từ 1.100.000.000 đồng đến 1.300.000.000 đồng.

Về biện pháp tư pháp đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu tiêu hủy 12.500 bao nhãn hiệu HERO; 12.500 bao nhãn hiệu SCOTT và 2.500 bao nhãn hiệu JET.

- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 Canô màu trắng - xanh dài 7,2 mét (không số hiệu và tên gọi) và 01 máy nhãn hiệu YAMAHA 200 CV màu đen.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 19.320.000 đồng mà bị cáo đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Vì động cơ vụ lợi nên vào khoảng 03 giờ, ngày 03/12/2018 Nguyễn Thành T và đối tượng tên Đ (không rỏ nhân thân lai lịch) điều khiển Ca nô đến khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia thuộc địa phận kênh Vĩnh tế, tỉnh An Giang để mua 27.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó có: 12.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO; 12.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SCOTT và 2.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET với tổng số tiền là 357.000.000 đồng để mang về tỉnh Cà Mau bán lại kiếm lời. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đem số thuốc lá trên về đến đoạn sông Cái Sắn thuộc ấp Phước Ninh, xã Mong Thọ B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông đường thủy Công an tỉnh Kiên Giang phát hiện và bắt quả tang cùng với toàn bộ số thuốc lá trên. Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự thì “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm: …; b) Thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên;..” Như vậy, hành vi mua 27.500 bao thuốc lá lậu để bán kiếm lời của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” như đã viện dẫn nêu trên.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi đã xâm phạm trực tiếp vào chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm. Bị cáo nhận thức được việc kinh doanh, buôn bán thuốc lá lậu là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu như vi phạm. Thế nhưng chỉ vì hám lợi, bị cáo đã bất chấp sự nghiêm trị của pháp luật cố ý lên An Giang tìm mua 27.500 bao thuốc lá lậu nhãn hiệu SCOTT, JET và Herô mang về Cà Mau để bán lại kiếm lời thì bị phát hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những gây thiệt hại về trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản lý thị trường sản xuất, kinh doanh, gây lũng đoạn thị trường trong nước dẫn đến Nhà nước không kiểm soát được hàng hóa ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX nghị án cần có mức án tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên cần xem xét áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên HĐXX sẽ áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự chuyển sang khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật để xem xét cho bị cáo, đồng thời cho thấy bị cáo là người duy nhất quản lý việc kinh doanh trong gia đình nên tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục lao động, sản xuất do đó cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự để xem xét cho bị cáo khi lượng hình cũng là phù hợp.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên cầ n ghi nhậ n để xem xé t.

Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:

5.1 Đối với 12.500 bao nhãn hiệu HERO; 12.500 bao nhãn hiệu SCOTT và 2.500 bao nhãn hiệu JET mà Công an đã thu giữ đây là vật thuộc loại nhà nước cấm kinh doanh nên căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

5.2 Đối với 01 Ca nô màu trắng - xanh dài 7,2 mét (không số hiệu và tên gọi) và 01 máy nhãn hiệu YAMAHA 200 CV màu đen đây là tài sản của bị cáo và do bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần xử tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước là phù hợp.

5.3 Đối với số tiền 19.320.000 đồng bị cáo khai nhận vào khoảng tháng 11/2018 bị cáo đã mua 1.400 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO đem đến khu vực tỉnh Cà Mau bán lại cho dân đi ngư phủ thu lợi được. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra không đủ chứng cứ để truy cứu đối với hành vi phạm tội trên nhưng bị cáo vẫn tự nguyện giao nộp số tiền 19.320.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước nên HĐXX ghi nhận.

Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 35 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 1.100.000.000 (Một tỷ một trăm triệu) đồng, kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

Về biện pháp tư pháp áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu tiêu hủy 12.500 bao nhãn hiệu HERO; 12.500 bao nhãn hiệu SCOTT và 2.500 bao nhãn hiệu JET.

- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 Ca nô màu trắng - xanh dài 7,2 mét (không số hiệu và tên gọi) và 01 máy nhãn hiệu YAMAHA 200 CV màu đen.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 19.320.000 đồng mà bị cáo đã tự nguyện giao nộp theo biên lai thu tiền số: 09448 ngày 20/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 20/QĐ-VKSCT ngày 08/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Về áp phí áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ