- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2017/HSST Ngày 10 tháng 11 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Ông Vũ Hải Dương
C¸c Héi thÈm nh©n d©n: Ông Vũ Mạnh Tùng
Bà Cao Thị Thế Hiền
Thư ký toµ ¸n ghi biªn b¶n phiªn toµ: Ông Lê Trung Nghĩa, Thẩm tra viên Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn Yªn Thuû.
§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Y tham gia phiªn toµ: Ông Nguyễn Xuân Từ, kiÓm s¸t viªn.
Ngµy 10/11/2017 Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyÖn Y, tØnh Hoµ B×nh mở P tòa công khai xÐt xö s¬ thÈm vô ¸n h×nh sù thô lý sè: 30/2017/HSST ngày 02/10/2017 ®èi víi bÞ c¸o:
1.Lê Văn C, Sinh năm: 1991
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
Nghề nghiÖp: Lao động tự do. D©n téc: Kinh; Tr×nh ®é v¨n hãa: 10/12. Con ông Lê Văn H và bà Trịnh Thị H; Vợ,con: chưa có; TiÒn ¸n; TiÒn sù: Kh«ng. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2017. (cã mÆt).
2. Người bị hại: Anh Hà Đức Ph, sinh năm: 1981.(cã mÆt).
TQ: Xóm B, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Khắc L, sinh năm: 1969.(cã mÆt).
TQ: Xóm L, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình
NHẬN THẤY
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại P tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn C là cháu gọi bà Trịnh Thị H là dì đi bộ từ nhà bà H ra chợ Bãi Đa chơi. Đến khoảng 10h15 phút ngày 19/7/2017 C gặp anh Hà Đức P tại đoạn đường liên xã, gần cống dẫn nước lúc này anh P dựng xe mô tô BKS 28S2-8622 gẫn chỗ C và hỏi C đi đâu thì C trả lời đi chợ Bãi Đa chơi, anh P không hỏi gì thêm mà đi bộ xuống cánh đồng. C quan sát thấy không có người, anh P đi vào khu ruộng khuất tầm nhìn nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 28S2-8622 bán lấy tiền chi tiêu nên đi đến gần thấy ổ khóa điện mở nhưng không có chìa cắm ở ổ khóa, C ngồi lên dùng chân đạp cần khởi động, nổ máy đi theo đường liên xã ra đường Hồ Chí Minh rồi rẽ xuống đường quốc lộ 12B theo hướng Y đi Nho Quan. Khi đến xóm Lạc Vượng, xã Yên Lạc quan sát ven đường C Thấy có quán sửa xe của anh Nguyễn Khắc L nên rẽ vào gặp anh L C đặt vấn đề bán xe mô tô BKS 28S2-8622, anh L hỏi C về nguồn gốc xe thì C nói dối đó là xe của C và để quên giấy tờ xe ở nhà, nghe nói vậy anh L tin là thật và đồng ý mua xe với giá 600.000đ và hẹn C chiều mang giấy tờ đến sẽ thỏa thuận mua bán sau. C đồng ý và nhận số tiền 600.000đ bắt xe khách đi ra thành phố Phủ Lý – Hà Nam chơi chi tiêu hết số tiền trên. Đến 17h cùng ngày C đến công an huyện Y đầu thú.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HDĐG ngày 24/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28S2- 8622 có giá trị 2.500.000 đồng.
Vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho anh Hà Đức P 01 xe mô tô BKS 28S2-8622 và đăng ký xe mô tô. Về trách nhiệm dân sự: Anh Hà Đức P và anh Nguyễn Khắc L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
T¹i b¶n c¸o tr¹ng sè 30/QĐ-KS§T ngµy 30/9/2017 ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Yªn Thuû ®· truy tè Lê Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, điều 138 Bé luËt h×nh sù.
Tại P toà, bị cáo Lê Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và thừa nhận bị truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội. Bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm h;p khoản 1, khoản 2, Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Văn C từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, truy thu số tiền do phạm tội mà có là 600.000đ của bị cáo Lê Văn C, không xem xét về dân sự và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại P toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại P tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, của người bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án;
XÉT THẤY
Bị cáo Lê Văn C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự , lờ i khai nhậ n củ a bị cá o tạ i P tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại , người làm chứng và cá c chứ ng cứ do cơ quan điề u tra thu thậ p đượ c, đủ cơ sở xá c đị nh:
Khoảng 10 giờ ngày 19/7/2017 Lê Văn C lợi dụng sơ hở của anh Hà Đức P đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 28S2-8622 dựng tại cống nước trên đường liên xã Bảo Hiệu – Yên Lạc. Sau khi chiếm đoạt xe mô tô C điều khiển đến quán sửa xe của anh Nguyễn Khắc L nói dối là xe của mình để quên giấy tờ ở nhà và bán cho anh L với giá 600.000đ, có được số tiền trên C chi tiêu cá nhân hết sau đó đến 17h cùng ngày bị cáo ra công an huyện Y đầu thú. Kết quả định giá xác định xe mô tô biển kiểm soát 28S2-8622 có giá trị là 2.500.000đ với hành vi như trên Lê Văn C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, điều 138 BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an của địa phương. Hiện nay, tình hình trộm cắp xảy ra nhiều với những thủ đoạn tinh vi, liều lĩnh, gây mất trật tự an toàn xã hội vì vậy cần có một hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo Lê Văn C được sinh ra, lớn lên trong gia đình làm nông nghiệp, từ nhỏ được gia đình nuôi cho ăn học đến lớp 10/12 thì bỏ học, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thường lêu lổng, nghiện hút ma túy, để có tiền tiêu sài mà không phải bỏ sức lao động, bị cáo đã phạm tội trộm cắp tài sản.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm tình tiết tặng nặng nào theo Điều 48 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trong, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, sau khi phạm tội đã ra đầu thú theo điểm h,p, khoản 1, khoản 2, Điều 46 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên. Thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thích hợp mới đảm bảo nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý vật chứng, trả lại cho anh Hà Đức P 01 xe mô tô và giấy tờ liên quan; anh Nguyễn Khắc L mua xe của bị cáo với số tiền 600.000đ nay anh P và anh L không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với số tiền 600.000 đồngthu lời bất chính do bị cáo phạm tội mà có, nay bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết nên cần truy thu xung quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 33; điểm h,p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Lê Văn C 12(Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/7/2017.
2. Truy thuxung quỹ nhà nước số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) của bị cáo Lê Văn C.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, Lê Văn C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh HB. - Sở tư pháp tỉnh HB. - VKSND huyện Y. - Cơ quan THADS huyện Y. - Bị cáo Lê văn C -Người bị hại. -Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan -Lưu HSVA | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Vũ hải Dương |