vanban.org

Bản án 34/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum Tuyên án 21/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

/Xử phạt Võ Hoàng Th 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) th¸ng tính từ ngày tuyên án (21/9/2017 . Võ Hoàng Th được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 04 (Bốn) tháng 15 (mười lăm) ngày vào thời gian của hình phạt tù; Thời gian hình phạt tù… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 34/2017/HSST Tuyên án 21/09/2017
Giám đốc thẩm Bản án 78/2018/HS-GĐT Tuyên án 27/11/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hoàng Th phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật h…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34 /2017/HSST
Ngày 21/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH KON TUM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trịnh Khắc Long; Nghề nghiệp: Trạm trưởng Trạm trồng trọt và bảo vệ thực vật.

2/ Ông Trương Ngọc Lễ; Nghề nghiệp: Hiệu trưởng trường THCS thị trấn P, huyện N.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông A Dáo – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Kon Tum.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Hà Sỹ Thái – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 21 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2017/TLST – HS ngày 22/8/2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2017/QĐXXST – HS ngày 08/9/2017 đối với bị cáo:

Võ Hoàng Th; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 9 năm 1997 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Quảng Nam; Nơi ở làm thuê chưa đăng ký tạm trú: Tổ D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị Th (đã chết ; ị cáo là con th tư trong gia đình có bốn anh em; ị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không; Tiền án: không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2017 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

1

- Ng i b hại: Anh Trương Tấn S; Sinh ngày 04/4/2001; Người đại diện hợp pháp cho anh Trương Tấn S là ông Trương Văn Nh ( bố đẻ ; C ng trú tại: Thôn B, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum; Có mặt tại phiên tòa.

- Những ng i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

/Anh Võ Văn Hoàng h; Sinh năm 1998; Trú tại: Tổ D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum; Có mặt tại phiên tòa.

/ à Đỗ Thị Kh; Sinh năm 1974; Trú tại: Tổ D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum; Có mặt tại phiên tòa.

/ Anh Đỗ Văn h; Sinh ngày 09/8/1999; Trú tại: Thôn B, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum; Có mặt tại phiên tòa.

+/ Anh Nguyễn Tất H; Sinh ngày 08/7/2001; Người đại diện hợp pháp cho anh H là bà Nguyễn Thị Ng: C ng trú tại: Thôn B, thị trấn , huyện N, tỉnh Kon Tum; Có mặt tại phiên tòa.

+/ Chị Nguyễn Thị Thúy H; Sinh ngày 14/6/2000; Người đại diện hợp pháp cho chị Thúy H là bà Nguyễn Thị Th: C ng trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum; Vắng mặt.

- Những ng i làm chứng:

- Chị Nguyễn Thị Kiều Tr; Sinh ngày 29/5/2000; Người đại diện hợp pháp cho chị Kiều Tr: Ông Nguyễn Văn Q (bố đẻ); Cùng trú tại: Tổ D, thị trấn , huyện N, tỉnh Kon Tum; Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Đ c S; Sinh năm 1990; Trú tại: Tổ D, thị trấn , huyện N, tỉnh Kon Tum; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa. Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/5/2017 Võ Văn Hoàng h tổ ch c sinh nhật tại quán bê thui của gia đình, những người tham dự sinh nhật gồm: Đỗ Thị Kh, Võ Hoàng Th, Nguyễn Thị Kiều Tr, Nguyễn Đ c S, Mai Mạnh Q, Nguyễn Thị Thúy H. Trong lúc tổ ch c sinh nhật thì Nguyễn Thị Thúy H dùng điện thoại di động quay phát trực tiếp lên mạng xã hội Faebook; Trong lúc này Đỗ Văn h là người yêu cũ của Nguyễn Thị Thúy H xem trên mạng nhìn thấy nên bực t c. Sau đó Đỗ Văn h rủ thêm Trương Tấn S và Nguyễn Tất H đi đến quán bê thui để gặp Võ

2 Văn Hoàng h, đến nơi Đỗ Văn Ph gọi Võ Văn Hoàng Ph ra ngoài nói chuyện nhưng Võ Văn Hoàng h không ra nên nhóm của Đỗ Văn Ph bỏ về. Khoảng 20 phút sau Đỗ Văn Ph cầm một con dao, H cầm một con dao, S cầm một viên gạch quay lại quán tìm Võ Văn Hoàng h để đánh. Khi thấy nhóm của Đỗ Văn Ph mang theo hung khí đến thì Nguyễn Thị Thúy H ra can ngăn đẩy Đỗ Văn Ph ra ngoài, còn S và H đi vào trong quán. Lúc này Võ Hoàng Th là người làm thuê cho quán đang đ ng trong tủ kính thái thịt. Th thấy S và H cầm dao và gạch đi vào quán nhằm mục đích gây sự đánh nhau với Võ Văn Hoàng Ph thì Th cầm theo một con dao đi ra ngoài và đ ng bên cạnh Võ Văn Hoàng h. Trong lúc xô xát, Trương Tấn S cầm viên gạch giơ lên định đánh Võ Văn Hoàng Ph thì Võ Hoàng Th tay phải cầm dao chạy đến đâm thẳng về phía trước trúng vào vùng ngực bên phải của Trương Tấn S, sau đó S ôm ngực chạy ra ngoài và được đưa đi cấp c u tại bệnh viện. Còn Võ Hoàng Th sau khi đâm S thì chạy xuống bếp cất dao trên nóc tủ lạnh rồi bỏ trốn. Đến ngày 07/5/2017 thì Võ Hoàng Th bị cơ quan Công an huyện N bắt giữ.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 90/TgT-TTPY ngày 12/7/2017 kết luận Trương Tấn S bị sẹo v ng đường nách giữa phải + sẹo vùng ngực trước bên phải: 08%; Tổn thương nhu mô phổi đơn thuần đã phẫu thuật nhưng không để lại di ch ng: 08%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 15%.

- Tại phiên tòa bị cáo Võ Hoàng Th thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Viện kiểm sát truy tố.Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo có nhờ bố đẻ mình là ông Võ Văn T đ ng ra bồi thường cho gia đình người bị hại được 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng) tiền chi phí chữa trị vết thương; Số tiền còn lại chấp nhận theo yêu cầu của người bị hại.

-Người bị hại là anh Trương Tấn S và người đại diện hợp pháp của người bị hại trình bày: Toàn bộ diễn biến sự việc được miêu tả theo cáo trạng của Viện kiểm sát là đúng sự thật và thừa nhận người bị hại cũng có phần lỗi nên xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại đã nhận bồi thường từ gia đình bị cáo 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng) tiền viện phí và chi phí chữa trị vết thương. Yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 15.000.000 (mười lăm triệu đồng) tiền tổn thất tinh thần.

3

-Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm ch ng có lời khai trình bày đúng với diễn biến sự việc được miêu tả theo cáo trạng của Viện kiểm sát. Ngoài ra bà Đỗ Thị Kh có ý kiến tại phiên tòa xin được nhận lại con dao là vật ch ng trong vụ án, đây là con dao của gia đình mà Võ Hoàng Th đã d ng phạm tội.

-Tại bản cáo trạng số 31/CT - VKS, ngày 21 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Kon Tum truy tố: Võ Hoàng Th về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng theo hướng có lợi cho bị cáo, theo Nghị quyết số 41 của Quốc Hội; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, các điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46; Điều 33 của ộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Võ Hoàng Th từ 02 năm t đến 03 năm t . Về vật ch ng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả con dao cho bà Đỗ Thị Kh và ch ng minh nhân dân cho Võ Hoàng Th theo quy định pháp luật.

-Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra, xin lỗi gia đình người bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo mẹ đã mất, bố bị cáo đang bị bệnh, gia đình rất khó khăn, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm ra t lo làm ăn để trả khoản tiền bố đã vay mượn cho bị cáo để bồi thường cho gia đình người bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án. Căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

4

Sau khi bị cáo nhận thấy người bị hại tay phải cầm viên gạch giơ lên định ném về phía Võ Văn Hoàng h, vì Võ Văn Hoàng h vừa là bạn, vừa là con của chủ quán mà bị cáo đang làm thuê, lúc này bị cáo đ ng đối diện, cách người bị hại khoảng 02m liền bước tới và đâm thẳng về phía ngực phải của người bị hại, gây tỷ lệ tổn thương thân thể cho người bị hại 15%. Với việc dùng dao là hung khí nguy hiểm và m c độ tổn thương của người bị hại thì bị cáo đã có lỗi cố ý gây thương tích cho anh Trương Tấn S, đã xâm phạm vào quyền bảo vệ s c khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ở m c độ nghiêm trọng, đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Vì vậy bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Kon Tum truy tố về tội “Cố ý gây thương tích ” theo điểm a khoản 1 khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999, có m c khung hình phạt t từ 02 năm đến 07 năm là đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo so với điều khoản tương ng của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đồi, bổ sung năm 2017 là phạm vào điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, có m c khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm. Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi , bổ sung năm 2017 để áp dụng điều khoản có lợi xét xử đối với bị cáo theo điều khoản tương ng của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đồi, bổ sung năm 2017.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quyết đ nh mức hình phạt đ i với b cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không áp dụng đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình tham gia tố tụng từ điều tra – truy tố – xét xử bị cáo luôn “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; Sau khi hậu quả sảy ra bị cáo đã nhờ bố đẻ thay mình bồi thường cho người bị hại số tiền 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng), thể hiện “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”; Ngoài ra việc bị cáo phạm tội có phần lỗi của người bị hại vì đã vô cớ đến gây sự, định đánh Võ Văn Hoàng h; Người bị hại đã bị xử phạt hành chính về hành vi này, tại phiên tòa đã nhận rõ lỗi của mình và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cần cho bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999.

5

Xét thấy trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nhất thời, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy không cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, vẫn đảm bảo được việc giáo dục, cải tạo bị cáo.

-Về xử lý vật chứng: Con dao bị cáo đã d ng để đâm người bị hại là của gia đình bà Đỗ Thị Kh; Căn c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho gia đình bà Đỗ Thị Kh con dao này; Đồng thời trả lại cho bị cáo 01 giấy ch ng minh nhân dân mang tên bị cáo, đã bị thu giữ trong quá trình điều tra.

-Về trách nhiệm dân sự: Ngoài số tiền viện phí, chi phí chữa trị bị cáo đã bồi thường cho người bị hại. Tại phiên tòa bị cáo với người bị hại đã thống nhất được việc bồi thường tiếp theo về tiền tổn thất tinh thần là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), thời gian bồi thường vào ngày 21/12/2017, chậm trả tiền phải chịu lãi suất 10%/năm và không còn tranh chấp nữa. Thấy thỏa thuận giữa bị cáo với người bị hại không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đ c xã hội: Hội đồng xét xử áp dụng Điều 42 của Bộ luật hình sự năm 1999, khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 590, Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo với những người bị hại về trách nhiệm dân sự.

-Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo qui định pháp luật để nộp ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

- Áp dụng điểm a khoản 1 khoản 2 Điều 104, các điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, khoản 3 Điều 7, điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

+/Xử phạt Võ Hoàng Th 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) th¸ng tính từ ngày tuyên án (21/9/2017 . Võ Hoàng Th được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 04 (Bốn) tháng 15 (mười lăm) ngày vào thời gian của hình phạt tù; Thời gian hình phạt tù còn lại 19 (mười chín tháng, 15 (mười lăm ngày t .

6

Giao cho y ban nhân dân xã Đ, huyện L , tỉnh Quảng Nam trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với y ban nhân dân xã Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Căn c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho gia đình bà Đỗ Thị Kh 01 con dao; Trả lại cho bị cáo 01 giấy ch ng minh nhân dân mang tên Võ Hoàng Th, theo biên bản giao nhận vật ch ng ngày 07 / 9 /2017 giữa cơ quan Công an huyện N với Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Kon Tum.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 của Bộ luật hình sự năm 1999, khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 590, Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015: Công nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại do s c khỏe bị xâm phạm giữa bị cáo với người bị hại: Ngoài số tiền đã bồi thường cho người bị hại, bị cáo phải bồi thường tiếp theo cho anh Trương Tấn S 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), thời hạn bồi thường vào ngày 21/12/2017; Nếu bị cáo chậm bồi thường tiền cho người bị hại thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả 10%/năm tương ng với số tiền và thời gian chậm trả.

-Về án phí: Căn c khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 8 Điều 26 và danh mục m c án phí, lệ phí Tòa án theo Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc Hội: uộc bị cáo Võ Hoàng Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000đ ( ảy trăm năm mươi ngàn đồng ) án phí dân sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước.

-Về quyền kháng cáo: Căn c Điểu 231 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án; Anh Võ Văn Hoàng h, bà Đỗ Thị Kh , anh Đỗ Văn h, anh Nguyễn Tất H c ng người đại diện hợp pháp có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/9/2017); Chị Nguyễn Thị Thúy H c ng người đại diện hợp pháp có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở y ban nhân dân xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền

7 thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ