- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công N phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công N, sửa bản án sơ thẩm số 78/2017/HSST ngày 21/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về phần trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Công N.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀNỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 337/2018/HSPT Ngày: 29/5/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Tự Học;
Các Thẩm phán:
Bà Bùi Thị Minh;
Ông Điều Văn Hằng;
- Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Dịu, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 29 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2018/TLPT ngày 06 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Công N phạm tội “Đánh bạc” do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2017/HSST ngày 21 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Công N, sinh năm 1973; trú tại: Thôn Đạm X, xã Tiền Ch, thị xã Phúc Y, tỉnh Vĩnh Phúc; văn hóa: Lớp 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Công L và bà Nguyễn Thị D (đều đã chết); có vợ là Đỗ Thị L1 và có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: năm 2007 bị phạt hành chính về hành vi đánh bạc; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/8/2017 đến ngày 06/9/2017; bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và Bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi tối ngày 28/8/2017, Nguyễn Văn H, Nguyễn Công N, Nguyễn Công Th đến ăn cơm, uống rượu tại nhà Nguyễn Trọng T ở thôn Đạm X, xã Tiền Ch, thị xã Phúc Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi uống rượu xong, cả bốn người gồm H, N, Th và T ra ngoài sân ngồi uống nước thì có Nguyễn Văn H1 đến chơi. Lúc này Nguyễn Công N có rủ thì được mọi người đồng ý cùng nhau đánh bạc ăn tiền, đồng thời N hỏi T cho mọi người đánh bạc ở nhà T thì T đồng ý. Sau đó N, H1, Th, H cùng đi vào phòng khách nhà T trên chiếu cói được trải sẵn từ lúc ăn cơm tối, N lấy bộ bài chắn và đĩa sứ màu xanh được T chuẩn bị từ trước để đánh bạc ăn tiền với nhau bằng hình thức đánh chắn. Tất cả mọi người thống nhất mức ăn thua trong mỗi ván là xuông 2, dịch 1 (tức là ai ù không có cước sắc thì gọi là ù xuông, mọi người chơi phải trả cho người ù là 20.000 đồng; ai ù có cước sắc thì mỗi cước được tính tương ứng với 1 điểm = 10.000 đồng và người nào trong ván bài ù có cước sắc phải để lại chiếu 10.000 đồng, đến khi đánh bạc xong sẽ chuyển lại số tiền này cho T là chủ nhà, gọi là tiền chiếu). Khi tham gia đánh bạc Nguyễn Văn H1 có 3.500.000 đồng, Nguyễn Văn H có 3.400.000 đồng, Nguyễn Công N có 2.200.000 đồng và Th có 2.000.000 đồng dùng để đánh bạc. Mọi người đã đánh với nhau được nhiều ván, trong đó có ván thắng, có ván thua nhưng không ai nhớ cụ thể là đã thắng thua được bao nhiêu tiền và đã để được vài chục nghìn đồng (không nhớ cụ thể) ra chiếu, số tiền này chưa đưa cho T. Nguyễn Công N và đồng phạm cùng nhau đánh bạc đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt thu giữ được Th, H1, H, N cùng toàn bộ tang vật chứng, còn Nguyễn Trọng T đã bỏ chạy trốn, đến ngày 01/9/2017 T đã ra đầu thú.
Vật chứng vụ án cơ quan Công an đã thu gỉừ bao gồm: Thu trên chiếu bạc số tiền 11.100.000 đồng, 96 quân bài chắn, 01 đĩa sứ màu xanh và 01 chiếc chiếu cói.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2017/HSST ngày 21/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p, khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; xử phạt bị cáo Nguyễn Công N 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 28/8/2017 đến ngày 06/9/2017.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/12/2017, bị cáo Nguyễn Công N có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công N vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm án và xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo về tội danh là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có tình tiết mới và phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng, do đó thấy không cần thiết cách ly bị cáo mà cho bị cáo đượng hưởng án treo để giáo dục bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Công Th và Nguyễn Trọng T tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 21 giờ đến 22 giờ 45 phút ngày 28/6/2017 tại nhà Nguyễn Trọng T ở thôn Đạm X, xã Tiền Ch, thị xã Phúc Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Văn N đã cùng Nguyễn Văn H, Nguyễn Công Th và Nguyễn Văn H1 đánh bạc ăn tiền dưới hình thức chơi “chắn” thì bị Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt giữ. Vật chứng cơ quan Công an đã thu giữ gồm: Tiền thu trên chiếu bạc 11.100.000 đồng, trong đó Nguyễn Công N tham gia đánh bạc sử dụng 2.200.000 đồng; Nguyễn Văn H1 sử dụng 3.500.000 đồng; Nguyễn Văn H sử dụng 3.400.000 đồng; Nguyễn Công Th sử dụng 2.000.000 đồng vào việc thực hiện tội phạm. Đối với Nguyễn Trọng T mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc ăn tiền, tuy nhiên bị cáo T là chủ nhà biết rõ các bị cáo đánh bạc ăn tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì nể nang, mục đích tư lợi đã cho các đồng phạm đánh bạc để thu tiền “chiếu” nên là đồng phạm với vai trò giúp sức. Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo Nguyễn Công N và các đồng phạm về tội “Đánh bạc” theo quy định Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Công N, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo Nguyễn Công N giữ vai trò khởi xướng, chuẩn bị công cụ sử dụng vào việc thực hiện tội phạm và cùng trực tiếp tham gia đánh bạc ngay từ đầu cho đến khi bị phát hiện, bắt giữ và khi tham gia đánh bạc N sử dụng 2.200.000 đồng vào việc thực hiện tội phạm. Về nhân thân, vào năm 2007 bị cáo đã bị Công an thị xã Phúc Y xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc nay lại phạm tội cùng loại. Mặc dù đã quá thời hạn không được coi là tiền sự nhưng không lấy đó là bài học rút kinh nghiệm để tu dưỡng, rèn luyện cho bản thân, chính điều này thể hiện bị cáo là người luôn không chịu tuân thủ pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung, phục vụ tốt việc giữ vững an ninh chính trị địa phương và làm gương cho người khác.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm cũng xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Công N trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 nên đã xử phạt bị cáo với mức án như vậy là phù hợp.
Tuy nhiên, sau khi cân nhắc, xem xét tính chất cũng như mức độ thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Công N thấy rằng: Bị cáo hiện nay có hoàn cảnh khó khăn, vợ bị đau ốm liên miên, bị cáo là trụ cột trong gia đình, số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là không lớn, có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Tại phiên tòa, bị cáo xuất trình thêm tài liệu mới, gia đình có công với cách mạng, đã nộp phạt và án phí. Do đó cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo và xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công N, sửa bản án sơ thẩm số 78/2017/HSST ngày 21/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về phần trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Công N.
- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p, n khoản 1; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Công N 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Công N cho Ủy ban nhân dân xã Tiền Ch, thị xã Phúc Y, tỉnh Vĩnh Phúc theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
- Áp dụng khoản 3 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 phạt bị cáo Nguyễn Công N 3.000.000 đồng sung quỹ nhà nước (ghi nhận bị cáo đã nộp số tiền phạt và tiền án phí hình sự sơ thẩm số tiền 3.200.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2015/0002098 ngày 06/02/2018 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc).
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ nguyên tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - Vụ I- Tòa án nhân dân tối cao; - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc; - Bị cáo N (theo địa chỉ); - Lưu HS, PHC-TP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Tự Học |