- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Biện Văn T và Nguyễn Văn P phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 337/2017/HS-ST Ngày 22-12-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Minh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Châu Hồng Nga.
2. Ông Dƣơng Thanh Quý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 346/2017/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 455/2017/HSST-QĐ ngày 11 tháng 12 năm 2017 đối với các bị cáo:
1. Biện Văn T, sinh năm 1987 tại tỉnh Hà Tĩnh; thƣờng trú: Thôn 2, xã M, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở hiện nay: tổ 14 khu phố T, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Biện Tiến Đ, sinh năm 1962 và bà Dƣơng Thị T, sinh năm 1964; bị cáo có 01 em ruột sinh năm 1989; có vợ tên Lê Thị H, sinh năm 1990 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/9/2017, có mặt.
2. Nguyễn Văn P, sinh năm 1986 tại tỉnh Hà Tĩnh; thƣờng trú: Xóm 2, xã P, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở hiện nay: khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1956; bị cáo có 3 anh chị em ruột lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1988; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/9/2017, có mặt.
- Ngƣời bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; thƣờng trú: ấp T, xã H, huyện Đ, Thành phố Cần Thơ; chỗ ở hiện nay: Tổ 21 khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Ngô Minh C, sinh năm 1988; thƣờng trú: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An; địa chỉ liên lạc: khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
2/ Anh Trần C, sinh năm 1985; thƣờng trú: thôn Đ, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ liên lạc: khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Đoàn Trọng H, sinh năm 1997; thƣờng trú: 1020/19B khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
2. Anh Phạm Xuân N, sinh năm 1996; thƣờng trú: 15/18 khu phố L, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 05/9/2017, Nguyễn Văn T điều khiển xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số kiểm soát 62E1-092.36 chở Nguyễn Văn P từ khu phố C đến khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Đến khoảng 17 giờ 40 phút khi cả hai đến nhà không số thuộc tổ 21 khu phố Đ thì phát hiện xe môtô hiệu Honda Wave Alpha biển số 65S1-6086 của anh Nguyễn Văn T dựng ở lề đƣờng trƣớc cổng nhà đầu xe hƣớng vào trong nhà, trên xe vẫn còn chìa khóa cắm vào ổ khóa, nhƣng anh T dùng khóa bánh xe trƣớc. T dừng xe cách đó khoảng 2m đứng cảnh giới, P xuống xe đi đến xe môtô biển số 65S1-6086 và quay đầu xe theo hƣớng ra đƣờng, leo lên định nổ máy thì bị anh T phát hiện truy hô, P bỏ chạy ra xe mô tô của T định tẩu thoát nhƣng bị anh T cùng với anh Phạm Xuân N và anh Đòan Trọng H bắt giữ T và P cùng tang vật giao cho công an phƣờng Tân Đông Hiệp lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang.
Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án gồm: 01 Honda Wave Alpha biển số 65S1-6086 đã thu hồi và trả lại cho bị hại anh Nguyễn Văn T, hiện anh T không yêu cầu gì khác.
Theo kết luận định giá số 228/BB.ĐG ngày 12/9/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: 01 xe môtô hiệu Honda Wave Alpha biển số 65S1-6086 màu đỏ, đen có giá là 8.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá số 228/BB.ĐG ngày 12/9/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An nêu trên.
Đối với xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số kiểm soát 62E1-092.36 của anh Trần C cho bị cáo T mƣợn, không biết bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh C.
Tại cáo trạng số 335/QĐ - KSĐT ngày 16 tháng 11 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Biện Văn T và Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Biện Văn T mức án từ 07 tháng đến 09 tháng tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P mức án từ 07 tháng đến 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 cây đoản hình chữ T là công cụ phƣơng tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Tại phiên tòa, bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các bị cáo Biện Văn T và Nguyễn Văn P đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe môtô hiệu Honda Wave Alpha biển số 65S1-6086 màu đỏ, đen của anh Nguyễn Văn T. Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự thì “Ngƣời nào trộm cắp tài sản của ngƣời khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dƣới năm mƣơi triệu đồng hoặc dƣới hai triệu đồng nhƣng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Nhƣ vậy, hành vi trên đây của các bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của ngƣời bị hại có trị giá 8.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Cáo trạng số 335/QĐ - KSĐT ngày 16 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Các bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời bị hại là vi phạm pháp luật, nhƣng vì tham lam tƣ lợi mong muốn có tiền để tiêu xài nên đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Trong vụ án này các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, bị cáo Biện Văn T là ngƣời rủ rê, bị cáo Nguyễn Văn P là ngƣời thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.
Về nhân thân: Bị cáo Biện Văn T là ngƣời lao động chƣa có tiền án tiền sự. Bị cáo Nguyễn Văn P đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 23/6/2016.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại anh Nguyễn Văn T. Ngƣời bị hại không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số kiểm soát 62E1-092.36 là tài sản hợp pháp của anh Trần C. Anh C không có lỗi trong việc các bị cáo sử dụng xe mô tô làm phƣơng tiện phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An trả lại cho anh C là đúng theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: 01 cây đoản hình chữ T là phƣơng tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Biện Văn T và Nguyễn Văn P phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 138 điểm g, h, p khoản 1, Điều 46 và Điều 53 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Biện Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2017.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây đoản hình chữ T. Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15 tháng 11 năm 2017.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Biện Văn T và Nguyễn Văn P, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An; - Công an thị xã Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - Chi cục THA thị xã Dĩ An; - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - UBND phƣờng Tân Bình, TX. Dĩ An; - UBND xã Cẫm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên; tỉnh Hà Tĩnh; - UBND phƣờng Tân Đông Hiệp, TX. Dĩ An; - UBND xã Ân Phú, huyện Vũ Quang; tỉnh Hà Tĩnh; - Bị cáo. - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng BC 81 CA tỉnh BD; - Lƣu VT; HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phan Thị Minh Châu |