vanban.org

Bản án 335/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2017. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 335/2017/HSST
Ngày 21-12-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Minh Hiếu.

2. Ông Nguyễn Đình Thế.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 345/2017/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 460/2017/HSST-QĐ ngày 11 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh ngày 09/7/1997 tại tỉnh Kiên Giang; thƣờng trú: Ấp H, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966 và bà Ngô Thanh T, sinh năm 1966; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 08/9/2017, có mặt.

- Người bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985; thƣờng trú: Ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ: Số 46/1A, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà Ngô Thanh T, sinh năm 1966; thƣờng trú: Ấp H, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có mặt.

2/ Ông Trần Huy Đ - Chủ hộ kinh doanh HL; địa chỉ: Số 313, đƣờng T, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng:

1/ Chị Châu Ngọc T, sinh năm 1993; thƣờng trú: Ấp 2, xã G, huyện L, tỉnh Bạc Liêu. Vắng mặt.

2/ Chị Nguyễn Lê Thùy V, sinh năm 1981; thƣờng trú: Số 251, quốc lộ 1K, khu phố 5, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Số 313, đƣờng T, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Văn M thuê phòng trọ cùng dãy nhà trọ với anh Nguyễn Văn Đ, chị Châu Ngọc T ở số 46/1A, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05/9/2017, M đến phòng trọ của anh Đ chơi, thấy cửa phòng trọ không khóa, bên trong vợ chồng anh Đ đang ngủ dƣới sàn nhà, phía trên đầu chỗ nằm của anh Đ để 01 điện thoại di động hiệu Oppo F3 Plus màu vàng. Nguyễn Văn M đi vào trong phòng trọ dùng tay phải lấy điện thoại di động của anh Đ, bỏ vào túi quần bên phải rồi khép cửa phòng trọ lại. Sau đó, M đến gặp K (không rõ nhân thân). Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Mạch và K mang điện thoại di động đến tiệm cầm đồ HL ở số 313, đƣờng T, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng do ông Trần Huy Đ làm chủ, M ở bên ngoài chờ còn K mang điện thoại di động hiệu Oppo F3 Plus màu vàng cầm cố cho chị Nguyễn Lê Thùy V là nhân viên của tiệm với giá 3.500.000 đồng. K đƣa cho M 1.000.000 đồng còn 2.500.000 đồng K giữ. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07/9/2017, chị Châu Ngọc T đến cơ quan Công an phƣờng T trình báo mất điện thoại. Ngày 08/9/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D bắt khẩn cấp M, tại cơ quan công an M đã khai nhận toàn bộ hành vi.

Theo kết luận định giá số 251/BB.ĐG ngày 25/9/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: Điện thoại di động hiệu Oppo F3 Plus màu vàng trị giá 10.000.000 đồng, đã trả lại cho ngƣời bị hại. Đối với số tiền 3.500.000 đồng bị cáo cầm cố tại tiệm cầm đồ HL, bà Ngô Thanh T là mẹ của bị cáo đã trả lại cho ông Trần Huy Đ là chủ tiệm cầm đồ 2.000.000 đồng, số tiền 1.500.000 đồng còn lại, ông Đ không yêu cầu.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá số 251/BB.ĐG ngày 25/9/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An nêu trên.

Đối với Khánh chƣa rõ nhân thân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh.

Đối với chị Nguyễn Lê Thùy V là quản lý tiệm cầm đồ HL không biết điện thoại di động hiệu Oppo F3 Plus màu vàng bị cáo cầm cố là tài sản do phạm tội mà có, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý.

Tại cáo trạng số 333/QĐ - KSĐT ngày 15 tháng 11 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại; số tiền 1.500.000 đồng ông Trần Huy Đ không yêu cầu bị cáo trả lại nên không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05/9/2017, tại phòng trọ của anh Nguyễn Văn Đ ở số 46/1A, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, trong lúc anh Nguyễn Văn Đ và chị Châu Ngọc T đang ngủ, Nguyễn Văn M dùng tay phải lấy điện thoại di động hiệu Oppo F3 Plus màu vàng để trên sàn, bỏ vào túi quần. Nguyễn Văn M đến gặp K (không rõ nhân thân), cả hai mang điện thoại di động đến tiệm cầm đồ HL cầm cố đƣợc 3.500.000 đồng. Tài sản bị chiếm đoạt có giá trị 10.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự thì “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản của ngƣời bị hại có giá trị 10.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 333/QĐ - KSĐT ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; ngƣời bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động làm thuê, chƣa có tiền án, tiền sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại, tại cơ quan điều tra ngƣời bị hại không yêu cầu bồi thƣờng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với số tiền 3.500.000 đồng bị cáo cầm cố điện thoại tại tiệm cầm đồ HL, bà Ngô Thanh T là mẹ của bị cáo đã trả lại cho ông Trần Huy Đ là chủ tiệm 2.000.000 đồng, số tiền 1.500.000 đồng còn lại ông Đ không yêu cầu bị cáo phải trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với K chƣa rõ nhân thân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh.

Đối với chị Nguyễn Lê Thùy V là quản lý tiệm cầm đồ HL không biết điện thoại di động hiệu Oppo F3 Plus màu vàng bị cáo cầm cố là tài sản do phạm tội mà có, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2017.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ