vanban.org

Bản án 335/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 30/10/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Văn H có hành vi trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 335/2017/HSST
Ngày 30/10/2017

NHÂN DANH

-

:

-

Bà Tạ Thị Hoa

Ông Nguyễn Việt Anh

Ông Nguyễn Văn Lương

-

Vi Thanh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thúy - Kiểm sát viên.

30

10

Trụ sở Tòa án nhân dân

379

16 tháng 10 năm 2017

357/2017/HSST-

18 tháng 10 năm 2017 Tạ Văn H, sinh năm 1992

Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã T, huyện T, Hà Nội; Nơi ở: Không nơi ở cố định

Không

11/12; Con ông Tạ Quốc H và bà Nguyễn Thị T; Vợ Lê Thị H;

694

04/8/2017;

: 02 tiền án: Bản án số 130/2014/HSST ngày 10/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 50/2017/HSST ngày 07/4/2017, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (cả hai bản án chưa được xóa án tích).

B khẩn cấp

02/8/2017. –

. -

Người bị hại: Chị Dương Thị H, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Số 661, đường T, phường T, quận H, Hà Nội -Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lê Văn T,sinh năm 1982.

Nơi cư trú: Số 15, ngõ 192, phố Đ, phường Đ, quận H, Hà Nội – Vắng mặt.

2. Anh Dương Văn T, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: xã L, huyện M, Hà Nội - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 31/7/2017, Tạ Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động Samsung J2 màu trắng đang sạc pin ở trên giường ngủ ở tầng lửng của quán tẩm quất số 661, phố T, phường T, quận H, Hà Nội. Đến sáng ngày 01/8/2017, H tháo 02 sim điện thoại ra và mang đến cửa hàng điện thoại của anh Lê Văn T tại số 14, ngõ 897, đường Giải Phóng bán cho anh T được 800.000 đồng. Sau khi bán được điện thoại, H đến quán Internet số 878, đường Trương Định, phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai chơi đến khoảng 21 giờ cùng ngày H bị một đối tượng tên H1 cùng 3 nam thanh niên khác đánh, gây thương tích cho H. Khi H bị đánh, chị Dương Thị H có đến can ngăn thì nhận ra Hiệu là người chị H nghi ngờ đã trộm cắp điện thoại của chị tại quán tẩm quất ở số nhà 661, đường T, phường T, quận H, Hà Nội vào ngày 31/7/2017.

Chị H đưa Tạ Văn H đến cơ quan công an trình báo. Tại cơ quan điều tra, Tạ Văn H thừa nhận đã trộm cắp chiếc điện thoại Samsung J2 màu trắng của chị H. Số tiền 800.000 đồng bán điện thoại, H ăn tiêu hết 305.000 đồng, còn lại 495.000 đồng H giao nộp cho cơ quan công an. Ngoài ra cơ quan điều tra có thu giữ của Hiệu 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu vàng, đen, trắng, biển kiểm soát 29Y1-06546, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mi4X màu trắng cùng 02 sim điện thoại. Chiếc điện thoại của chị H, anh Lê Văn T đã bán lại cho người không quen biết với giá 1.000.000 đồng, không thu hồi được nên Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai không có căn cứ để xác định giá trị tài sản. Căn cứ lời khai của chị H, cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàng Mai đã tiến hành khảo sát trị giá của chiếc điện thoại tại thời điểm hiện tại là 1.000.000 đồng. Chị H không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường trị giá chiếc điện thoại này. Anh T khi mua điện thoại của H, không biết đó là điện thoại do H trộm cắp. Anh T có giao nộp số tiền 200.000 đồng cho cơ quan điều tra.

Bản cáo trạng số 353/CT-VKS-HS ngày 16/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội: Truy tố Tạ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Tạ Văn H khai vào khoảng 14 giờ ngày 31/7/2017, bị cáo đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động Samsung J2 màu trắng tại quán tẩm quất số 661 phố T, phương T, quận H, Hà Nội như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân quận Hoàng Mai truy tố là đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai

quyền công tố tại phiên tòa

tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã xác định: Giá trị tài sản chiếc điện thoại di động Samsung J2 mà bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo có 02 tiền án đều về tội chiếm đoạt chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo Tạ Văn H đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Do bị cáo Tạ Văn H chưa thi hành hình phạt tù của Bản án số 50/2017/HSST ngày 07/4/2017 Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đã có hiệu lực pháp luật nên sau khi quyết định hình phạt cho lần phạm tội này của bị cáo, cần tổng hợp với hình phạt của bản án trênvà buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích nêu trên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai

.

khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 51; Điều 33 Bộ luật hình sự:

-

Tạ Văn H

10

12 tháng Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù của Bản án số 50/2017/HSST ngày 07/4/2017, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 22 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2017.

-

.

- Về trách nhiệm dân sự: Chị Dương Thị H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường trị giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2 màu trắng không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về tang vật:

+ Anh Lê Văn Tuấn sau khi mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2 màu trắng của Tạ Văn H đã bán chiếc điện thoại cho người không quen biết được 1.000.000 đồng. Anh T có giao nộp tại cơ quan điều tra số tiền 200.000 đồng. Do anh T không biết tài sản do bị cáo Tạ Văn H phạm tội mà có nên trả lại cho anh T số tiền này.

+ Tịch thu số tiền 495.000 đồng do phạm tội mà có thu giữ của bị cáo để sung công quỹ nhà nước.

+ Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 305.000 đồng do phạm tội mà có để sung công quỹ nhà nước.

+ Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mi4X màu trắng không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Bị cáo Tạ Văn H không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự

luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tạ Văn H không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Tạ Văn H tại phiên tòa với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người

cùng các tài liệu

khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 31/7/2017, lợi dụng sự sơ hở của chủ tài sản, bị cáo Tạ Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2 màu trắng trị giá 1.000.000 ( một triệu) đồng của chị Dương Thị H tại quán tẩm quất số 661, đường T, phường T, quận H, Hà Nội. Tại Điều 138 Bộ luật hình sự quy định “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Căn cứ theo điều luật trên, tài sản bị cáo Tạ Văn H chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 (hai triệu) đồng nhưng bị cáo có 02 tiền án tại Bản án số 130/2014/HSST ngày 10/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và Bản án số 50/2017/HSST ngày 07/4/2017, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án tích nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Đối với thương tích của bị cáo Tạ Văn H do đối tượng tên Hùng cùng ba nam thanh niên khác gây ra, do không xác định nhân thân cụ thể của các đối tượng này và bị cáo H từ chối giám định thương tích, không có yêu cầu gì nên cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Tạ Văn H khai, bị cáo bị đối tượng tên H1 và ba nam thanh niên khác đánh vì khoảng tháng 5/2017 bị cáo có trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng của H1 tại phòng trọ tại phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Tuy nhiên, do không xác định được nhân thân cũng như địa chỉ phòng trọ của đối tượng tên H1, không xác định được địa điểm bị cáo Tạ Văn H bán điện thoại trộm cắp của H1 nên cơ quan điều tra đã tách tài liệu có liên quan đến hành vi trộm cắp chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus để điều tra xử lý sau là có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Tạ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tạ Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo Tạ Văn H khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

.

Bị cáo Tạ Văn H có nhân thân xấu. Là thanh niên tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe nhưng bị cáo lười lao động. Để có tiền ăn tiêu bị cáo nhiều lần có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Trong thời gian tại ngoại chưa thi hành hình phạt 12 tháng tù của Bản án số 50/2017/HSST ngày 07/4/2017, bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Điều này thể hiện bị cáo đã được cơ quan pháp luật cải tạo giáo dục nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm, tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người lương thiện mà vẫn tiếp tục có hành vi phạm tội chứng tỏ bị cáo không có ý thức tuân thủ pháp luật nên cần xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo.

. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.

Về tổng hợp hình phạt: Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, sau khi Bản án số 50/2017/HSST ngày 07/4/2017, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt bị cáo Tạ Văn H 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” có hiệu lực pháp luật, bị cáo Tạ Văn H chưa thi hành án đối với hình phạt 12 tháng tù của bản án nêu trên. Vì vậy, sau khi quyết định hình phạt đối với tội “Trộm cắp tài sản” của bị cáo Tạ Văn H trong vụ án này cần tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù của Bản án số 50/2017/HSST ngày 07/4/2017 và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự,

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có khả năng kinh tế nên miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Chị Dương Thị H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường trị giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2 màu trắng nên Hội đồng xét xử không phải xét.

. Về xử lý tang vật: Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu vàng, đen, trắng, biển kiểm soát 29Y1-06546, qua xác minh xe thuộc sở hữu hợp pháp của anh Dương Văn T. Anh T cho em trai là Dương Văn Đ mượn để sử dụng. Anh Đ cho bị cáo Tạ Văn H mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết H sử dụng vào việc phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai đã trả lại xe cho anh Dương Văn T là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 02 sim điện thoại có số seri 89840200010541394565 và 8984048851002070985 cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Tạ Văn H là 02 sim được lắp trong chiếc điện thoại Samsung J2 bị cáo trộm cắp của chị Dương Thị H nên ngày 25/9/2017, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H 02 chiếc sim trên là có căn cứ.

Đối với số tiền 495.000 đồng thu giữ của bị cáo có nguồn gốc từ số tiền bị cáo bán điện thoại trộm cắp được 800.000 đồng, bị cáo ăn tiêu hết 305.000 đồng, còn lại 495.000 đồng. Chị Dương Thị H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường trị giá chiếc điện thoại di động Samsung J2 không thu hồi được. Vì vậy, cần tịch thu số tiền 495.000 đồng và buộc bị cáo phải truy nộp số tền 305.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mi4X màu trắng có số Imei 863673030370688 thu giữ của bị cáo Tạ Văn H qua xác minh không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Đối với số tiền 200.000 đồng anh Lê Văn Tuấn giao nộp cho cơ quan điều tra. Quá trình xác minh đã xác định anh Tuấn không biết tài sản do bị cáo Tạ Văn H phạm tội mà có nên cần trả lại cho anh T số tiền này.

.

và quyền kháng cáo:

Điều 23

I

Tạ Văn H

, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 231; Điều 234 Bộ luật tố tụng Hình sự.

;

QUYẾ

:

Căn cứ khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 51; Điều 41, Điều 33 Bộ luật hình sự; Điều 76; Điều 99; Điều 231; Điều 234 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ Điều 23

I

ban hành kèm theo Nghị quyết.

1. Tuyên bố bị cáo Tạ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

-

: Bị cáo Tạ Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù của Bản án số 50/2017/HSST ngày 07/4/2017, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2017.

-

Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường dân sự nên Tòa không xét.

3. Về xử lý tang vật:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 495.000 (bốn trăm chín mươi lăm nghìn) đồng thu giữ của bị cáo Tạ Văn H (theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 03/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn - Chi nhánh Hoàng Mai).

- Buộc bị cáo Tạ Văn H phải truy nộp số tiền 305.000 ( ba trăm linh lăm nghìn ) đồng do phạm tội mà có để sung công quỹ nhà nước.

- Trả lại cho bị cáo Tạ Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mi4X màu trắng có số Imei 863673030370688 không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án (Hiện đang lưu giữ tại kho tang vật Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo phiếu nhập kho số 18 ngày 23 tháng 10 năm 2017).

- Trả lại anh Lê Văn T số tiền 200.000 ( hai trăm nghìn) đồng (theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 03/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn - Chi nhánh Hoàng Mai).

4. Về án phí: Bị cáo Tạ Văn H

chịu 200.000 (

)

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án. -

– - - -

- Bị hại;

- Người liên quan; -

./.

Tạ Thị Hoa

Cỡ chữ